thuhanghp

BÙI THỊ THU HẰNG

Con vui về phía tiếng cười
Mẹ đong xác chữ mựơn lời đẩu đâu
Giấc mơ cầm đựơc nông sâu
Ai hay tiếng sét chặn đầu cơn giông.

« August 2014 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            

  
  • Tổng số bài viết: 73
  • Tổng số góp ý: 4313
  • Tổng số trackbacks: 0
  • Tổng số lượt xem bài: 44.799
     
     
    thuhanghp | 10 May, 2014 22:42

     


    Nguyên ủy viên chi hội thơ.
    Hội Nhà văn Hải Phòng
    Đã cầm bút viết văn, làm thơ, kể cả các cây bút nghiệp dư đến các cây bút chuyên nghiệp, tác phẩm gửi tới các phương tiện thông tin đại chúng, trước khi công bố, thế nào cũng bị biên tập, ngoài các tiêu chí về văn chương theo định hướng, còn lại là nghệ thuật tính, quần chúng tính, chính trị tính, và rất nhiều thứ “tính” và “toán” khác nữa. Nhưng ở phạm vi bài viết trao đổi này, tôi chỉ bàn riêng đến tính nghệ thuật trong thơ.
    Còn nhớ vào cuối thập kỷ trước, khi công việc kinh doanh đã đi vào ổn định, tôi giành nhiều thời gian cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ hơn, với ý tưởng “Nước nổi thì bèo nổi”. Bữa ấy ông giám đốc nhà văn hóa thị xã đến làm quen và nhận đồng hương. Ông gợi ý: “Ông có bài thơ nào, cứ đưa đây, tôi đem đăng báo của thành phố cho” Nể lòng, tôi chép tay đưa cho ông bài thơ “Bến Nghiêng” là sáng tác mới về một địa danh của khu du lịch Đồ Sơn. Chủ nhật ông giám đốc mặt mày hớn hở, tay cầm tờ báo “Hải Phòng cuối tuần” đến tặng tôi, miệng khen rối rít:“- Thơ ông hơi bị hay. Báo đăng rồi đây” Vừa nói, ông giám đốc vừa chìa tờ báo có in bài thơ vào trước mặt tôi. Trong bụng mừng rên, nhưng làm ra vẻ không quan tâm đến cái sự kiện “trọng đại” theo cách thể hiện của ông giám đốc nhà văn hóa, tôi lảng sang chuyện khác.
    Tiễn ông giám đốc ra về, tôi vào phòng khóa trái cửa lại để đọc bài thơ đăng báo của mình. Đọc đi đọc lại, vẫn không tin vào mắt mình. Câu thơ hay nhất trong bài: 
    “…Đồi thông xào xạc bóng trưa
    Con thuyền ra Dáu đòng đưa con thuyền…”
    Đã được bản báo biên tập thành:
    “…Đồi thông xào xạc gió đưa
    Em ra bến đón đung đưa con thuyền…” !!!...
    Tôi nằm vật ra giường, cố nuốt bao nỗi nghẹn ngào, cay đắng của một kẻ phải đứng nhờ bằng đôi chân gỗ của người khác. Câu lục trong nguyên tác tả một buổi trưa hè tĩnh lặng, gió nhẹ, chỉ làm cho những chiếc lá thông như bàn tay vẫy vào trong gió “xào xạc” thôi. Câu thơ không dùng từ “gió” mà có gió có nắng. Câu bị biên tập thừa hai từ “gió đưa” Nhưng tai hại hơn là từ một câu thơ lục bát, họ đã biến nó thành một câu vè. 

    Vâng cũng trên 6 dưới tám cả, cũng vần vèo, nhưng gieo vần âm cuối của câu 6, trùng khít vào âm số 6 của câu 8, thì đấy là cách hợp vần của VÈ.(vần vập vần: đưa / đưa) Giời ạ! Ngoài ra trong thơ lục bát cũng không chấp nhận cách giao vần vập vần cách câu. 
    Những câu viết như thế, bộc lộ tác giả rất nghèo vốn từ, ngữ. Mà “Chữ bầu lên nhà thơ.” (Chữ của nhà văn Pháp, gốc Do Thái Etmong Giabes)

    Trong một tuyển tập văn thơ của HLHVHNT HP tuyển chọn một chùm ba bài thơ của tôi, trong đó có bài “Màu thương nhớ” nói về hoàn cảnh éo le của một cô thanh niên xung phong thời hậu chiến, bán hương hoa, nương nhờ cửa phật, hy vọng tìm lại người yêu là lính, có câu:
    “…Cửa thiền cầu chút vận may
    Chỉ màu thương nhớ xếp ĐẦY nếp nhăn…”
    Nhưng trong bản in, ra mắt đọc giả thì:
    “…Cửa thiền cầu chút vận may
    Chỉ màu thương nhớ xếp DẦY nếp nhăn…”
    ĐẦY và DẦY. Hai chữ ở hai câu thơ chỉ khác nhau mỗi cái vạch ngang của chữ “đờ” nhưng ngữ, nghĩa đã cách xa nhau một trời một vực. Tôi nghĩ có lẽ đây là lỗi do “cậu đánh máy” !... “xếp đầy nếp nhăn” là tả cái nhăn trong não, không ai nhìn thấy được (trừ cảm quan của thi nhân) còn “dầy nếp nhăn” là câu tả thực, tả nếp nhăn nhìn thấy bằng mắt trên trán, trên má, trên đuôi mày của người con gái đã quá lứa nhỡ thì ấy. Không cần bút lực, ai cũng có thể trông thấy để hạ bút. Nó phá vỡ lôzic với khổ mở đầu khi giới thiệu về người nữ TNXP này:
    “…Hàm răng khóe mắt ấy ơi
    Nhẽ nào làm ánh sao rơi sân chùa…”
    Xuân sắc là niềm tự hào của người phụ nữ, nhưng cũng là nỗi khốn khổ của những cô gái quá lứa nhỡ thì. Họ chịu đựng biết bao “điều ong tiếng ve” và đàm tiếu mỉa mai từ người đời bởi sự chờ đợi thủy chung, vô vọng vào một mối tình vời xa hy vọng. Niềm thương yêu, nhớ nhung da diết ấy lặn tất cả vào nếp nhăn trong não, chỉ mình cô biết, chỉ mình cô hay, âm thầm chịu đựng. Sự hy sinh cao cả, lặng thầm ! Còn vẻ bên ngoài vẫn được dấu kín bởi “hàm răng, khóe mắt”… 
    Từ một câu thơ viết bằng cái cảm, chỉ vì “lỗi của cậu đánh máy” mà câu thơ thành câu tả thực, làm mất đi “Ý tại ngôn ngoại” của câu thơ. Đến đây ta có thể đồng thuận với kết luận: “ Không được sử dụng ngôn ngữ đời thường vào thơ”. Đồng nghĩa với việc: Câu thơ hay là câu thơ viết bằng cái cảm”.

    Một bài thơ, một câu thơ viết ra phải để lại dấu ấn của sự sáng tạo của người viết ra nó. Nếu chỉ sao chép hiện thực sẽ sa đà vào kể lể, một bảng thống kê có vần, vừa tốn giấy, vừa mất công người đọc. Làm thơ, viết văn khác với ghi chép nhật ký. 
    “Uống nước chè xanh ở núi Đối” là bài thơ tôi viết về cố đô Dương Kinh nhà Mạc, có những câu nằm lòng người đọc. Nhà thơ Kim Dũng, quê Phú Thọ, trong một lần về giao lưu thơ, bộc bạch với tôi:” Chúng tôi sinh ra ở kinh đô chè xanh, nhưng cũng chưa viết được câu thơ nào về chè hay như vậy”. Nhưng điều đáng nói ở đây là khi tuyển chọn bài thơ vào in trong các tập thơ của CLB thơ Dương Kinh, bài thơ bị biên tập một từ cho đúng với thực tế địa phương. Tất nhiên đã đạt được tiêu chí “thực” thì phải tước bỏ cái ảo, cái tưởng tượng, thứ giá trị nhất làm nên câu thơ hay, để trả về câu thơ tả đúng. Đây cũng chính là lực cản lớn nhất, sức ỳ lớn nhất ở các hội viên CLB thơ các quận huyện, hoặc đối với những người buổi đầu đến với thơ. Họ chăm chú viết sao cho ngọt vần sao cho thật đúng với những gì đã và đang diễn ra xung quanh.
    Ở mọi vùng quê, đều hãm chè xanh bằng ấm tích rồi ủ trong giỏ nan, còn nước phải dùng nước mưa, hoặc nước suối, nước sông. Không ai dùng nước giếng, bởi nước giếng ở vùng đồng bằng thường nhiễm phèn, nước có váng, màu đỏ như có rỉ sắt, dùng hãm trà mạn hay chè xanh đều rất khó uống. Nước rót ra bát có màu vàng đục như nước vo gạo, nhấp vào vị đã ngái, lại ngang. Theo kinh nghiệm ngàn đời truyền lại thì nước dùng hãm chè xanh tuyệt đỉnh phải là nước khe chảy ra từ trong núi. Mà tại đây còn hiện diện cả một vùng núi đồi: Nào núi Đối, núi Trà Phương…nơi xưa kia từng trồng chè tiến Vua. Từ gợi ý của câu ca cổ “Nước khe, chè núi” và ẩn ý của tứ thơ, tôi quyết định lựa chọn từ “khe” cho câu thơ:
    “…Khe Trà Phương nước xanh trong
    Hãm chè núi Đối đượm không đâu bằng…”
    Tất cả các tạp chí, báo giấy, báo mạng…đều sử dụng nguyên văn câu này, chỉ trong tuyển thơ của CLB thơ Dương Kinh thì đổi từ “Khe” thành “Giếng”:
    “…Giếng Trà Phương nước xanh trong
    Hãm chè Núi Đối đượm không đâu bằng…”
    Tại sao vậy ? Theo giải thích của cán bộ và nhân dân ở đây thì thực tế ở núi Trà Phương không nhìn thấy cái khe nước nào chảy, mà dưới chân núi bà con đều đào giếng lấy nước, nhưng nước cũng ngọt như nước khe ! Thì ra vậy. 

    Tôi cũng đã đến nhiều vùng quê trồng chè đa phần là vùng đồi núi đất, cũng có giếng nước xây tường xung quanh, bên trong có mái đao lợp ngói như cái miếu ở chân núi Trang Các nơi có đền thờ Lý Thường Kiệt. Cũng cái giếng xây có mái đao ở đầu xã Hà Lai (Thanh Hóa) Ngay như dưới chân dãy núi Tường Long Đồ Sơn, cũng có cái giếng Mắt Rồng, múc cả ngày không hết nước.

    Mắt thường không thấy “khe” đâu. Nhưng tôi cam đoan mỗi cái giếng ấy đều chặn một cái khe nước ngầm chảy ra từ lòng núi. Cái khe ấy không lộ diện do nằm nông hoặc sâu mà thôi. Đây là một thực tế của việc tả thực tả hư trong thơ. Hư hay thực nó phải phụ thuộc vào tứ. Bài thơ viết về uống chè xanh chỉ là một cái cớ để tác giả dãi bày tình cảm của mình về một vùng đất và con người nơi đây. Cũng đầy đủ dụng cụ phục vụ uống chè: “Ấm tích giỏ nan” cũng “vò” cũng “ngún lửa” “nước dào”…Nhưng đọc giả nếu cảm quan rộng, sẽ nhận ra những câu chữ sau không phải là chuyện uống chè:
    “…Đành rằng trước lạ sau quen/Anh vò hăm hở…em thèn thẹn sao ?...”
    Đọc lướt qua sẽ không thấy gì; nhưng phải đặt câu hỏi: Lạ, quen có liên quan gì đến việc uống nước chè. Lại nữa: Anh “vò” gì mà “hăm hở” đến nỗi “em thèn thẹn”, nếu chỉ vò chè xanh thì vò cả ngày cũng chẳng làm ai “thẹn” ! rồi: “Yêu đừng mắt liếc như dao/ Thương đừng ngún lửa nước dào em ơi…” Có yêu, có thương, có lửa, có nước. Nhưng rất khoát không phải lửa củi, lửa rơm, nước dào cũng không phải nước sôi. Thế cho nên: “Thơm ngon cạn đến đáy rồi/ Còn ngơ ngẩn tiếc, còn hồi hộp mong” Một thứ nước chỉ có trong trí tưởng tượng! chính vì vậy hạ câu tiếp theo là “khe” trở thành từ đắc địa đối với mạch thơ cũng như tứ thơ này. Tựa như câu:”…Dám đâu phụ nhịp tình duyên/ Lách qua khe đảo rướn trên đợi chờ…” Trong bài “Nơi nảo nơi nao. Khác chăng một bên là “khe” nước, còn bên kia là “khe đảo” nhưng đều là “khe” cả. Đến đây bạn đọc phần nào nhận ra cái từ “giếng” bị nhè ra khỏi mạch thơ. Và tôi cũng từng bị người Đồ Sơn phản bác: “Đảo Dáu làm gì có khe !” Thơ không cần giải thích. Tự câu chữ phản ảnh nội dung, tư tưởng và khả năng sáng tạo của mỗi tác giả. Nếu phải giải thích thì không còn là thơ nữa. 



    Vậy thế nào là sáng tạo? Sáng tạo là sự tìm tòi, phát hiện của tác giả ấy trong bài thơ, câu thơ với góc nhìn riêng không giống một ai thông qua câu chữ và hình ảnh. Cũng viết về đề tài quê hương, nhưng cả ba nhà thơ sau đều có cách diễn đạt hoàn toàn khác nhau, không đụng hàng nhau:
    “Mái gianh ơi hỡi mái gianh
    Ngấm bao mưa nắng mới thành quê hương”
    Trần Đăng Khoa
    Quê hương là chùm khế ngọt
    Cho con trèo hái mỗi ngày…”
    Đỗ Trung Quân

    “Chỉ là ấm tích giỏ nan
    Vị chè núi Đối mà làm nên quê…
    Trịnh Anh Đạt

    Tôi cũng đọc nhiều bài thơ viết về các dòng sông, kể cả dòng sông Đa Độ.
    Nhưng nếu bỏ cái đầu đề ghi tên địa danh ra thì dòng sông nào cũng giống dòng sông nào. Quanh đi quẩn lại vẫn “bãi mía, nương dâu” “bên lở bên bồi” rồi “con đò, bến nước” Nguyên nhân chính là tác giả chưa tìm ra “thương hiệu” của dòng sông đã vội hạ bút, viết rất vu vơ, sản phẩm thơ làm ra như “nhái” của nhau. Đây chính là một đòi hỏi đối với người làm thơ. Thương hiệu của dòng sông có khi được mã hóa bằng một cặp tính từ. Chẳng hạn ta hãy hỏi người cao niên tới trẻ nhỏ : -“ Dòng sông nào nước chảy lơ thơ ?” Tôi tin mọi người sẽ có câu trả lời chính xác, chuẩn không cần chỉnh! Vậy “nước chảy lơ thơ” chính là “thương hiệu” của sông Cầu, chứ không thể là của sông Đáy hay sông Đào, hay con sông nào khác. Còn đây là con sông Mã quê tôi qua thơ Quang Dũng:
    “…Sông Mã gầm lên khúc độc hành !”
    Còn nhạc sỹ, họa sỹ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo “mặc định” cho sông Hương bằng câu:
    “Sông Hương hóa rượu ta đến uống
    Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say !”
    Còn đây là dòng sông Lam miền trung, trong thơ Trần Hoàng Cương:
    “…Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa
    Rút ruột mình thành dải lụa sông Lam…”





    Tôi yêu dòng sông Đáy thơ mộng, nơi có nhánh núi đá của dãy Trường Sơn trườn ra từ thị trấn Kiện Khê cho tới Gia Thanh, Ninh Bình, song hành cùng dòng sông gần hai chục cây số. Nơi cưu mang gia đình tôi những năm sơ tán đạn bom. Tôi ấp ủ viết một bài thơ thật hay trả nghĩa cho quê hương thứ hai của mình, nhưng rồi bất lực vì không tìm ra sự khác biệt của dòng sông. Mãi 40 năm sau, trong một lần ngồi trên chuyến đò ngang qua sông chiều cùng những người dân lam lũ…Vào dịp nông nhàn, họ qua đò từ sáng tinh mơ vào rừng chặt cây tươi về làm củi. Vùng núi đá chỉ có cây sim, cây mua, không có cây lớn, họ chặt rồi gánh chuyển xuống đò ngang. Vào mùa hoa, những cánh hoa tim tím, xinh xinh, còn bám trên các cành củi bị chặt, do héo và va chạm, rụng xuống dòng nước sông trôi đi. Tôi cúi xuống vớt những cánh hoa lên, rưng rưng xúc động: “Thương hiệu” của dòng sông Đáy chính là đây ! Tứ thơ hình thành, đêm ấy bài thơ “Người về bên cũ” ra đời, trong đó có câu:
    “…Vớt lên một cánh hoa rừng
    Hương nghèn nghẹn thoảng giữa rưng rưng chiều…”
    Thế là dòng sông có cánh hoa rừng trôi trở thành thương hiệu đặc trưng của dòng sông Đáy. Nó không thể lẫn vào các dòng sông trong các ca khúc:”Tiếng bìm bịp kêu con nước lơn dòng” hay “Dòng sông nước chảy liu riu…” Chẳng cần gắn thêm địa danh, chỉ cần nghe khúc hát, câu thơ là có thể phân biệt và nhận ra “chân dung” dòng sông nào.

    Một nhà nghiên cứu, cho rằng: “Văn là gạo, rượu là thơ” để phân biệt sự khác nhau giữa làm thơ và viết văn. Nhưng người viết văn trong cuộc thì thừa nhận “ Truyện ngắn, tiểu thuyết, là những câu chuyện bịa y như thật” …Có nghĩa sự sống còn trong sáng tác văn chương là sự hư cấu, xắp đặt, theo dụng ý nghệ thuật của tác giả. Còn trong thơ, người viết phải biết mã hóa câu chữ của mình để câu thơ đạt được nhiều giai tầng, nhiều ngữ nghĩa. Nôm na là người làm thơ phải biết cách “ngụy trang” cho câu, chữ, cho bài thơ của mình nhằm đánh lạc hướng người đọc. Để giải mã câu thơ, mỗi đọc giả cũng phải có một cái “chìa khóa” riêng của mình. Đọc giả chỉ bị mê hoặc, lôi cuốn khi tìm ra những thông điệp ẩn dưới tầng câu chữ trong mỗi câu thơ, trong mỗi bài thơ.
    Hải Phòng mùa hè 2014
    T.A.Đ 

    TÔI LÀM THƠ VÀTHƠ TÔI ĐƯỢC BIÊN TẬP NHƯ THẾ NÀO ?
    Trịnh Anh Đạt
    Nguyên ủy viên chi hội thơ.
    Hội Nhà văn Hải Phòng
    Đã cầm bút viết văn, làm thơ, kể cả các cây bút nghiệp dư đến các cây bút chuyên nghiệp, tác phẩm gửi tới các phương tiện thông tin đại chúng, trước khi công bố, thế nào cũng bị biên tập, ngoài các tiêu chí về văn chương theo định hướng, còn lại là nghệ thuật tính, quần chúng tính, chính trị tính, và rất nhiều thứ “tính” và “toán” khác nữa. Nhưng ở phạm vi bài viết trao đổi này, tôi chỉ bàn riêng đến tính nghệ thuật trong thơ.
    Còn nhớ vào cuối thập kỷ trước, khi công việc kinh doanh đã đi vào ổn định, tôi giành nhiều thời gian cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ hơn, với ý tưởng “Nước nổi thì bèo nổi”. Bữa ấy ông giám đốc nhà văn hóa thị xã đến làm quen và nhận đồng hương. Ông gợi ý: “Ông có bài thơ nào, cứ đưa đây, tôi đem đăng báo của thành phố cho” Nể lòng, tôi chép tay đưa cho ông bài thơ “Bến Nghiêng” là sáng tác mới về một địa danh của khu du lịch Đồ Sơn. Chủ nhật ông giám đốc mặt mày hớn hở, tay cầm tờ báo “Hải Phòng cuối tuần” đến tặng tôi, miệng khen rối rít:“- Thơ ông hơi bị hay. Báo đăng rồi đây” Vừa nói, ông giám đốc vừa chìa tờ báo có in bài thơ vào trước mặt tôi. Trong bụng mừng rên, nhưng làm ra vẻ không quan tâm đến cái sự kiện “trọng đại” theo cách thể hiện của ông giám đốc nhà văn hóa, tôi lảng sang chuyện khác.
    Tiễn ông giám đốc ra về, tôi vào phòng khóa trái cửa lại để đọc bài thơ đăng báo của mình. Đọc đi đọc lại, vẫn không tin vào mắt mình. Câu thơ hay nhất trong bài: 
    “…Đồi thông xào xạc bóng trưa
    Con thuyền ra Dáu đòng đưa con thuyền…”
    Đã được bản báo biên tập thành:
    “…Đồi thông xào xạc gió đưa
    Em ra bến đón đung đưa con thuyền…” !!!...
    Tôi nằm vật ra giường, cố nuốt bao nỗi nghẹn ngào, cay đắng của một kẻ phải đứng nhờ bằng đôi chân gỗ của người khác. Câu lục trong nguyên tác tả một buổi trưa hè tĩnh lặng, gió nhẹ, chỉ làm cho những chiếc lá thông như bàn tay vẫy vào trong gió “xào xạc” thôi. Câu thơ không dùng từ “gió” mà có gió có nắng. Câu bị biên tập thừa hai từ “gió đưa” Nhưng tai hại hơn là từ một câu thơ lục bát, họ đã biến nó thành một câu vè. 

    Vâng cũng trên 6 dưới tám cả, cũng vần vèo, nhưng gieo vần âm cuối của câu 6, trùng khít vào âm số 6 của câu 8, thì đấy là cách hợp vần của VÈ.(vần vập vần: đưa / đưa) Giời ạ! Ngoài ra trong thơ lục bát cũng không chấp nhận cách giao vần vập vần cách câu. 
    Những câu viết như thế, bộc lộ tác giả rất nghèo vốn từ, ngữ. Mà “Chữ bầu lên nhà thơ.” (Chữ của nhà văn Pháp, gốc Do Thái Etmong Giabes)

    Trong một tuyển tập văn thơ của HLHVHNT HP tuyển chọn một chùm ba bài thơ của tôi, trong đó có bài “Màu thương nhớ” nói về hoàn cảnh éo le của một cô thanh niên xung phong thời hậu chiến, bán hương hoa, nương nhờ cửa phật, hy vọng tìm lại người yêu là lính, có câu:
    “…Cửa thiền cầu chút vận may
    Chỉ màu thương nhớ xếp ĐẦY nếp nhăn…”
    Nhưng trong bản in, ra mắt đọc giả thì:
    “…Cửa thiền cầu chút vận may
    Chỉ màu thương nhớ xếp DẦY nếp nhăn…”
    ĐẦY và DẦY. Hai chữ ở hai câu thơ chỉ khác nhau mỗi cái vạch ngang của chữ “đờ” nhưng ngữ, nghĩa đã cách xa nhau một trời một vực. Tôi nghĩ có lẽ đây là lỗi do “cậu đánh máy” !... “xếp đầy nếp nhăn” là tả cái nhăn trong não, không ai nhìn thấy được (trừ cảm quan của thi nhân) còn “dầy nếp nhăn” là câu tả thực, tả nếp nhăn nhìn thấy bằng mắt trên trán, trên má, trên đuôi mày của người con gái đã quá lứa nhỡ thì ấy. Không cần bút lực, ai cũng có thể trông thấy để hạ bút. Nó phá vỡ lôzic với khổ mở đầu khi giới thiệu về người nữ TNXP này:
    “…Hàm răng khóe mắt ấy ơi
    Nhẽ nào làm ánh sao rơi sân chùa…”
    Xuân sắc là niềm tự hào của người phụ nữ, nhưng cũng là nỗi khốn khổ của những cô gái quá lứa nhỡ thì. Họ chịu đựng biết bao “điều ong tiếng ve” và đàm tiếu mỉa mai từ người đời bởi sự chờ đợi thủy chung, vô vọng vào một mối tình vời xa hy vọng. Niềm thương yêu, nhớ nhung da diết ấy lặn tất cả vào nếp nhăn trong não, chỉ mình cô biết, chỉ mình cô hay, âm thầm chịu đựng. Sự hy sinh cao cả, lặng thầm ! Còn vẻ bên ngoài vẫn được dấu kín bởi “hàm răng, khóe mắt”… 
    Từ một câu thơ viết bằng cái cảm, chỉ vì “lỗi của cậu đánh máy” mà câu thơ thành câu tả thực, làm mất đi “Ý tại ngôn ngoại” của câu thơ. Đến đây ta có thể đồng thuận với kết luận: “ Không được sử dụng ngôn ngữ đời thường vào thơ”. Đồng nghĩa với việc: Câu thơ hay là câu thơ viết bằng cái cảm”.

    Một bài thơ, một câu thơ viết ra phải để lại dấu ấn của sự sáng tạo của người viết ra nó. Nếu chỉ sao chép hiện thực sẽ sa đà vào kể lể, một bảng thống kê có vần, vừa tốn giấy, vừa mất công người đọc. Làm thơ, viết văn khác với ghi chép nhật ký. 
    “Uống nước chè xanh ở núi Đối” là bài thơ tôi viết về cố đô Dương Kinh nhà Mạc, có những câu nằm lòng người đọc. Nhà thơ Kim Dũng, quê Phú Thọ, trong một lần về giao lưu thơ, bộc bạch với tôi:” Chúng tôi sinh ra ở kinh đô chè xanh, nhưng cũng chưa viết được câu thơ nào về chè hay như vậy”. Nhưng điều đáng nói ở đây là khi tuyển chọn bài thơ vào in trong các tập thơ của CLB thơ Dương Kinh, bài thơ bị biên tập một từ cho đúng với thực tế địa phương. Tất nhiên đã đạt được tiêu chí “thực” thì phải tước bỏ cái ảo, cái tưởng tượng, thứ giá trị nhất làm nên câu thơ hay, để trả về câu thơ tả đúng. Đây cũng chính là lực cản lớn nhất, sức ỳ lớn nhất ở các hội viên CLB thơ các quận huyện, hoặc đối với những người buổi đầu đến với thơ. Họ chăm chú viết sao cho ngọt vần sao cho thật đúng với những gì đã và đang diễn ra xung quanh.
    Ở mọi vùng quê, đều hãm chè xanh bằng ấm tích rồi ủ trong giỏ nan, còn nước phải dùng nước mưa, hoặc nước suối, nước sông. Không ai dùng nước giếng, bởi nước giếng ở vùng đồng bằng thường nhiễm phèn, nước có váng, màu đỏ như có rỉ sắt, dùng hãm trà mạn hay chè xanh đều rất khó uống. Nước rót ra bát có màu vàng đục như nước vo gạo, nhấp vào vị đã ngái, lại ngang. Theo kinh nghiệm ngàn đời truyền lại thì nước dùng hãm chè xanh tuyệt đỉnh phải là nước khe chảy ra từ trong núi. Mà tại đây còn hiện diện cả một vùng núi đồi: Nào núi Đối, núi Trà Phương…nơi xưa kia từng trồng chè tiến Vua. Từ gợi ý của câu ca cổ “Nước khe, chè núi” và ẩn ý của tứ thơ, tôi quyết định lựa chọn từ “khe” cho câu thơ:
    “…Khe Trà Phương nước xanh trong
    Hãm chè núi Đối đượm không đâu bằng…”
    Tất cả các tạp chí, báo giấy, báo mạng…đều sử dụng nguyên văn câu này, chỉ trong tuyển thơ của CLB thơ Dương Kinh thì đổi từ “Khe” thành “Giếng”:
    “…Giếng Trà Phương nước xanh trong
    Hãm chè Núi Đối đượm không đâu bằng…”
    Tại sao vậy ? Theo giải thích của cán bộ và nhân dân ở đây thì thực tế ở núi Trà Phương không nhìn thấy cái khe nước nào chảy, mà dưới chân núi bà con đều đào giếng lấy nước, nhưng nước cũng ngọt như nước khe ! Thì ra vậy. 

    Tôi cũng đã đến nhiều vùng quê trồng chè đa phần là vùng đồi núi đất, cũng có giếng nước xây tường xung quanh, bên trong có mái đao lợp ngói như cái miếu ở chân núi Trang Các nơi có đền thờ Lý Thường Kiệt. Cũng cái giếng xây có mái đao ở đầu xã Hà Lai (Thanh Hóa) Ngay như dưới chân dãy núi Tường Long Đồ Sơn, cũng có cái giếng Mắt Rồng, múc cả ngày không hết nước.

    Mắt thường không thấy “khe” đâu. Nhưng tôi cam đoan mỗi cái giếng ấy đều chặn một cái khe nước ngầm chảy ra từ lòng núi. Cái khe ấy không lộ diện do nằm nông hoặc sâu mà thôi. Đây là một thực tế của việc tả thực tả hư trong thơ. Hư hay thực nó phải phụ thuộc vào tứ. Bài thơ viết về uống chè xanh chỉ là một cái cớ để tác giả dãi bày tình cảm của mình về một vùng đất và con người nơi đây. Cũng đầy đủ dụng cụ phục vụ uống chè: “Ấm tích giỏ nan” cũng “vò” cũng “ngún lửa” “nước dào”…Nhưng đọc giả nếu cảm quan rộng, sẽ nhận ra những câu chữ sau không phải là chuyện uống chè:
    “…Đành rằng trước lạ sau quen/Anh vò hăm hở…em thèn thẹn sao ?...”
    Đọc lướt qua sẽ không thấy gì; nhưng phải đặt câu hỏi: Lạ, quen có liên quan gì đến việc uống nước chè. Lại nữa: Anh “vò” gì mà “hăm hở” đến nỗi “em thèn thẹn”, nếu chỉ vò chè xanh thì vò cả ngày cũng chẳng làm ai “thẹn” ! rồi: “Yêu đừng mắt liếc như dao/ Thương đừng ngún lửa nước dào em ơi…” Có yêu, có thương, có lửa, có nước. Nhưng rất khoát không phải lửa củi, lửa rơm, nước dào cũng không phải nước sôi. Thế cho nên: “Thơm ngon cạn đến đáy rồi/ Còn ngơ ngẩn tiếc, còn hồi hộp mong” Một thứ nước chỉ có trong trí tưởng tượng! chính vì vậy hạ câu tiếp theo là “khe” trở thành từ đắc địa đối với mạch thơ cũng như tứ thơ này. Tựa như câu:”…Dám đâu phụ nhịp tình duyên/ Lách qua khe đảo rướn trên đợi chờ…” Trong bài “Nơi nảo nơi nao. Khác chăng một bên là “khe” nước, còn bên kia là “khe đảo” nhưng đều là “khe” cả. Đến đây bạn đọc phần nào nhận ra cái từ “giếng” bị nhè ra khỏi mạch thơ. Và tôi cũng từng bị người Đồ Sơn phản bác: “Đảo Dáu làm gì có khe !” Thơ không cần giải thích. Tự câu chữ phản ảnh nội dung, tư tưởng và khả năng sáng tạo của mỗi tác giả. Nếu phải giải thích thì không còn là thơ nữa. 



    Vậy thế nào là sáng tạo? Sáng tạo là sự tìm tòi, phát hiện của tác giả ấy trong bài thơ, câu thơ với góc nhìn riêng không giống một ai thông qua câu chữ và hình ảnh. Cũng viết về đề tài quê hương, nhưng cả ba nhà thơ sau đều có cách diễn đạt hoàn toàn khác nhau, không đụng hàng nhau:
    “Mái gianh ơi hỡi mái gianh
    Ngấm bao mưa nắng mới thành quê hương”
    Trần Đăng Khoa
    Quê hương là chùm khế ngọt
    Cho con trèo hái mỗi ngày…”
    Đỗ Trung Quân

    “Chỉ là ấm tích giỏ nan
    Vị chè núi Đối mà làm nên quê…
    Trịnh Anh Đạt

    Tôi cũng đọc nhiều bài thơ viết về các dòng sông, kể cả dòng sông Đa Độ.
    Nhưng nếu bỏ cái đầu đề ghi tên địa danh ra thì dòng sông nào cũng giống dòng sông nào. Quanh đi quẩn lại vẫn “bãi mía, nương dâu” “bên lở bên bồi” rồi “con đò, bến nước” Nguyên nhân chính là tác giả chưa tìm ra “thương hiệu” của dòng sông đã vội hạ bút, viết rất vu vơ, sản phẩm thơ làm ra như “nhái” của nhau. Đây chính là một đòi hỏi đối với người làm thơ. Thương hiệu của dòng sông có khi được mã hóa bằng một cặp tính từ. Chẳng hạn ta hãy hỏi người cao niên tới trẻ nhỏ : -“ Dòng sông nào nước chảy lơ thơ ?” Tôi tin mọi người sẽ có câu trả lời chính xác, chuẩn không cần chỉnh! Vậy “nước chảy lơ thơ” chính là “thương hiệu” của sông Cầu, chứ không thể là của sông Đáy hay sông Đào, hay con sông nào khác. Còn đây là con sông Mã quê tôi qua thơ Quang Dũng:
    “…Sông Mã gầm lên khúc độc hành !”
    Còn nhạc sỹ, họa sỹ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo “mặc định” cho sông Hương bằng câu:
    “Sông Hương hóa rượu ta đến uống
    Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say !”
    Còn đây là dòng sông Lam miền trung, trong thơ Trần Hoàng Cương:
    “…Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa
    Rút ruột mình thành dải lụa sông Lam…”





    Tôi yêu dòng sông Đáy thơ mộng, nơi có nhánh núi đá của dãy Trường Sơn trườn ra từ thị trấn Kiện Khê cho tới Gia Thanh, Ninh Bình, song hành cùng dòng sông gần hai chục cây số. Nơi cưu mang gia đình tôi những năm sơ tán đạn bom. Tôi ấp ủ viết một bài thơ thật hay trả nghĩa cho quê hương thứ hai của mình, nhưng rồi bất lực vì không tìm ra sự khác biệt của dòng sông. Mãi 40 năm sau, trong một lần ngồi trên chuyến đò ngang qua sông chiều cùng những người dân lam lũ…Vào dịp nông nhàn, họ qua đò từ sáng tinh mơ vào rừng chặt cây tươi về làm củi. Vùng núi đá chỉ có cây sim, cây mua, không có cây lớn, họ chặt rồi gánh chuyển xuống đò ngang. Vào mùa hoa, những cánh hoa tim tím, xinh xinh, còn bám trên các cành củi bị chặt, do héo và va chạm, rụng xuống dòng nước sông trôi đi. Tôi cúi xuống vớt những cánh hoa lên, rưng rưng xúc động: “Thương hiệu” của dòng sông Đáy chính là đây ! Tứ thơ hình thành, đêm ấy bài thơ “Người về bên cũ” ra đời, trong đó có câu:
    “…Vớt lên một cánh hoa rừng
    Hương nghèn nghẹn thoảng giữa rưng rưng chiều…”
    Thế là dòng sông có cánh hoa rừng trôi trở thành thương hiệu đặc trưng của dòng sông Đáy. Nó không thể lẫn vào các dòng sông trong các ca khúc:”Tiếng bìm bịp kêu con nước lơn dòng” hay “Dòng sông nước chảy liu riu…” Chẳng cần gắn thêm địa danh, chỉ cần nghe khúc hát, câu thơ là có thể phân biệt và nhận ra “chân dung” dòng sông nào.

    Một nhà nghiên cứu, cho rằng: “Văn là gạo, rượu là thơ” để phân biệt sự khác nhau giữa làm thơ và viết văn. Nhưng người viết văn trong cuộc thì thừa nhận “ Truyện ngắn, tiểu thuyết, là những câu chuyện bịa y như thật” …Có nghĩa sự sống còn trong sáng tác văn chương là sự hư cấu, xắp đặt, theo dụng ý nghệ thuật của tác giả. Còn trong thơ, người viết phải biết mã hóa câu chữ của mình để câu thơ đạt được nhiều giai tầng, nhiều ngữ nghĩa. Nôm na là người làm thơ phải biết cách “ngụy trang” cho câu, chữ, cho bài thơ của mình nhằm đánh lạc hướng người đọc. Để giải mã câu thơ, mỗi đọc giả cũng phải có một cái “chìa khóa” riêng của mình. Đọc giả chỉ bị mê hoặc, lôi cuốn khi tìm ra những thông điệp ẩn dưới tầng câu chữ trong mỗi câu thơ, trong mỗi bài thơ.
    Hải Phòng mùa hè 2014
    T.A.Đ
    thuhanghp | 30 December, 2013 08:29

    VÀO VƯỜN THƠ DƯƠNG KINH

                             CHỌN TRÁI CÂY,  BẦY MÂM NGŨ QUẢ

                                                             

          “Vườn thơ Dương Kinh” với tôi, trong mười năm qua chẳng khác nào “Cây nhà, lá vườn”. “Mùa nào, thức ấy” từ ông chủ, đến những người làm vườn cần mẫn, thực lòng, hào phóng mời thưởng thức các loại hoa thơm trái ngọt thu hoạch trong vườn nhà.

            Tôi chẳng thể nào quên, lần đầu tiên được mời về nói chuyện với hội viên câu lạc bộ thơ Dương Kinh, về chủ đề “Thơ lục bát”. Ngày ấy số hội viên chỉ khoàng 1/ 3 so với số hội viên CLB hiện nay, nhưng đa phần là người cao tuồi. Thấm thoát đã 10 năm trôi qua. Những mầm hạt ươm trồng, bón chăm từ độ ấy, trong khoảnh vườn khiêm tốn ấy, bây giờ đã thành một trang trại, bốn mùa kết trái, đơm hoa. Để có thành công hôm nay, trước hết phải ghi nhận công sức to lớn của ông chủ trang trại. Vậy thì sản vật đầu tiên tôi lựa chọn không phải của ai khác, mà chính là của cụ Đặng Nam, chủ nhiệm câu lạc bộ thơ Dương Kinh. Ta cùng thưởng thức:

       

                                            Huyền thoại mẹ

     

                                       Giếng xưa thăm lại bồi hồi

                               Nhớ ngày nát cỏ tơi bời xác hoa

                                       Nơi đây giặc khảo giặc tra

                              Cắn răng…Mẹ chẳng khai ra giếng ngầm…

     

                                       (Người đi kẻ đến bao lần

                              An toàn tính mạng dưới hầm ngụy trang!...)

     

                                       Giặc về vây ráp xóm làng

                              Mẹ lo con đói, cơm mang cách nào?

                                       Ống quần bên thấp bên cao

                             Giỏ cơm buộc bụng mẹ trao mỗi ngày

     

                                       Ém trong hầm giếng mẹ xây

                               Mưa tràn ngợp thở, nước đầy ngách ngang

                                       Tay gầu lòng mẹ xốn xang

                               Run run múc cả bàng hoàng đổ đi…

     

                                       Giếng xưa cỏ mọc xanh rì

                               Đã thành huyền thoại thần kỳ… Mẹ ơi!...

     

       Một bài thơ chỉn chu về vần điệu, lớp lang, cấu tứ và hình ảnh, không có câu, chữ nào độn, tự nhiên như chuyện thơ sinh ra phải thế: Một câu chuyện ngắn có thắt nút, cởi nút, được kể bằng thể thơ truyền thống, xúc tích, không cần chú thích, giải thích, đã truyền cảm xúc sang người đọc, làm họ cũng xốn xang, cảm động theo mạch dẫn của tác giả. Mỗi khi đọc bài thơ này, trong tôi lại vang lên khúc hát hào hùng của bài ca “Đất quê ta mênh mông” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, phổ thơ Dương Hương Ly: “Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc…/ Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh/ Hầm mẹ giăng như lũy như thành…/ Mẹ giấu cả sư đoàn dưới đất…” “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Phải thế chăng, những người mẹ Việt Nam anh hùng đã tham gia đánh giặc theo cách rất riêng của mình suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp tới thời kỳ đánh Mỹ. Hai bà mẹ Việt Nam Anh hùng xuất hiện trong thơ, sinh ra ở hai đầu đất nước, hòa vào nhau trong hai cuộc kháng chiến ái quốc vĩ đại, giống hệt nhau về trí thông minh và lòng dũng cảm. Cụ Đặng Nam là một lão thành Cách mạng ngót 70 tuổi Đảng, với lòng đam mê thơ ca, với ý thức, trách nhiệm công dân, cụ đã trở thành người viết “sử thi” trên chính quê hương mình.

       Tôi nghĩ bài thơ “Huyền thoại mẹ” hội tụ đủ yếu tố về lịch sử lẫn nghệ thuật thi ca, nên chăng, lãnh đạo huyện Kiến Thụy cho khắc vào bia đá, dựng ngay nơi “Giếng xưa cỏ mọc xanh rì” để mãi mãi trở thành “Huyền thoại” sánh cùng với các địa danh Cách mạng khác của huyện nhà như: Đầm Bầu, Kính Trực, Cổ Trai…

       Sự lựa chọn thứ hai, tôi nhắm đến cũng là một bậc trưởng lão, chỉ kém cụ Đặng Nam đúng 2 tuổi, là một cựu chiến binh, người con rể của Kiến Thụy, Hải Phòng, quê gốc tận Bình Định, vốn rất chú tâm với thể thơ Đường luật. Nhưng thật bất ngờ, thi phẩm được chọn lại là “lục bát”. Khi đọc và nghiên cứu bài thơ này, tôi có cảm tưởng thi phẩm viết theo thể thơ truyền thống của người Việt, như một võ sĩ vạm vỡ, tự tin thượng đài, khiến bao nhiêu “võ sỹ Đường luật” của tác giả, bỗng trở thành “võ sỹ hạng ruồi” tuốt.

     

                                              Ký ức hội làng

     

                                     Hội làng mở giữa sân đình

                                Bao năm xa cách, vô tình gặp nhau

                                     Môi ai vẫn đỏ thắm trầu

                                Mắt huyền như thuở ban đầu mộng mơ…

     

                                     Mừng vui… quên cả chạy mưa

                                Ướt hai lần áo… vẫn chưa cạn lời

                                     Hình như em nép vào tôi

                                Hình như bữa ấy đất trời chao nghiêng…

     

                                      Tình đầu như ngọn lửa thiêng

                               Sáng bừng trong khoảng trời riêng mỗi người.

      

       Bài thơ tình ngắn gọn, xúc tích, đọc hết, trong ta vẫn còn day dứt, bồi hồi, đây chính là lý do thành công của bài thơ. Đề tài không mới, và nhiều thi nhân đã trải lòng mình về những kỷ niệm “Mối tình đầu”. Sinh ra làm người, có lẽ ai cũng có một mối tình đầu của riêng mình, để mà ấp ủ, để mà nhớ mong. Qua thơ, đọc giả biết: Mối tình đầu của tác giả với một cô thôn nữ ăn trầu (Rất có thể nhuộm răng đen nữa) vào cuối thế kỷ trước, bất ngờ gặp nhau giữa hội làng đầu thế kỷ này, mà “thần tượng” vẫn không thay đổi: “ Môi đỏ thắm trầu…Mắt huyền như thuở ban đầu mộng mơ…” Họ mừng vui, cảm động đến mức: “…Quên cả chạy mưa / Ướt hai lần áo vẫn chưa cạn lời…” Không chỉ “quên chạy mưa” mà họ như quên tất cả “bàn dân thiên hạ” đang có mặt ở trong lễ hội. Tác giả say tình, nhưng rất tỉnh, còn biết mình “ướt hai lần áo” để rồi hạ một động từ đắc địa “cạn lời” khi cả đôi đang ướt sũng nước dưới mưa! Mối tình già nửa thế kỷ trôi qua, mà ở hội làng này, lần đầu tiên họ cảm nhận được hơi ấm da thịt của nhau, hơi thở hổn hển của nhau, đến nỗi tác giả bàng hoàng, xúc động như lạc giữa chốn thần tiên: “Hình như bữa ấy đất trời trao nghiêng…” …Tình yêu không có tuổi là vậy.

       Nhưng cũng thật tiếc, chỉ còn gang tấc nữa, mạch thơ cán đích hoàn mỹ, thì bị chững lại bởi hai từ “Sáng bừng”. Theo thiển ý của tôi, nếu tác giả thay bằng tính từ “Lung linh” thì cặp lục bát kết thúc bài thơ, sẽ xuất hiện trong sổ tay của rất nhiều người yêu thơ:

                                    

                                         “Tình đầu như ngọn lửa thiêng

                                Lung linh trong khoảng trời riêng mỗi người”

        “Lung linh” là đủ độ, còn “Sáng bừng” là cách nói quá, có phần ngoa ngôn, e rằng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng hiện tại của cả đôi bạn tình. Hoặc giả, phản ảnh cuộc sống hạnh phúc của gia đình mỗi người có vấn đề…

       Có một tác giả chú tâm làm thơ lục bát của CLB thơ Dương Kinh, là Nga Anh Hoàng. Anh có thơ đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương, và anh cũng là hội viên của nhiều câu lạc bộ thơ trong thành phố Hải Phòng. Nhiều người yêu thơ biết tên tuổi của Nga Anh Hoàng từ bài thơ tình “Lúng liếng ơi”. Một soạn giả có ý định tuyển chọn bài thơ này vào tuyển “Thơ lục bát Việt Nam” Nhưng sách ra, tìm mục lục lại không có tên tác giả và bài thơ. Tìm hiểu mới hay, bài thơ đã được công bố trên tuần báo “Văn nghệ Trẻ” cùng trang thơ của CLB thơ Dương Kinh, cách đó ít năm, nhưng tác giả có cài thêm hai câu mới vào giữa bài; Theo soạn giả thì: “Chẳng khác nào người viết kẹp sạn vào miếng giò lụa” Tôi lấy làm tiếc cho tác giả. Anh chưa hài lòng với bài thơ ngắn, nên “độn” vào, “thêm” vào, vô tình biến bài thơ thành “độc vần”. Việc “Vỗ tay bằng một bàn tay” xảy ra khá phổ biến ở các hội viên nắm không vững niêm luật thơ lục bát. Nga Anh Hoàng có sở trường về thơ tình, nhưng đọc tổng thể, chọn một bài đứng độc lập không dễ. Ví như bài “Phố huyện” có câu: “Đàn chim lướt khướt cánh chiều…” thì bài dẫn trên đã có câu:”... Sâm cầm đã lướt khướt bay ngang trời…” Vô tình tác giả tự “xả thịt” thơ mình. Câu chữ, hình ảnh, của bài thơ trước dùng vào bài thơ sau, cũng biến thành sạn! Đây là điều người làm thơ nên tránh, …Xin tiến cử bài “Mưa đôi” của Nga Anh Hoàng, trong mâm ngũ quả mùa này:

     

                                                    Mưa đôi

     

                                         Mưa hè rồi lại mưa ngâu

                                   Mưa ra bong bóng từ đâu mưa về

                                         Mưa xanh ướt cỏ bờ đê

                                   Mưa mù trắng đất tràn trề biển khơi

     

                                       Đường trơn em vịn vào tôi

                                Hóa thành một trận mưa đôi dập dìu

                                       Giọt mưa – giọt ngọc nâng niu

                                Lưới thưa vớt cạn chút yêu muộn màng.

     

                                      Che chung chiếc nón lá bàng

                                Dắt nhau đi thật khẽ khàng trong mưa

                                      Mưa từ buổi sớm đến trưa

                                Cho dù mưa tạnh vẫn chưa ngớt lòng

     

                                      Ước gì không có bão giông

                                 Đôi ta đi đến tận cùng chân mây.

     

       Có một điều trùng hợp, các tác giả thơ của CLB thơ Dương Kinh thường gặp nhau trong cảm xúc mưa. Có lẽ sinh ra và lớn lên ở một địa phương thuần nông, mưa đã tác động trực tiếp đến cuộc sống, đến sinh hoạt, đến tâm tư, tình cảm của những người cầm bút nơi đây. Ta đã gặp cơn mưa ở sân đình trong hội làng của Tô Tấn Khải, Tứ thơ lạ trong “Mưa đôi” của Nga Anh Hoàng, và đây là “Giọt mưa đêm” của Quang Khoảng:

     

                                                Giọt mưa đêm

     

                                       Mưa đêm dột thấu nỗi lòng

                                Giọt ngoài lạnh lẽo, giọt trong nhớ thầm

                                       Giọt nặng tình, giọt vô tâm

                                Giọt rơm rớm ướt. giọt tầm tã rơi

     

                                       Giọt nào đầy, giọt nào vơi

                               Giọt nào vỡ cả khoảng trời đêm mưa

                                      Quờ tay sang nửa giường thừa

                               Ngỡ như hơi ấm ngày xưa vẫn còn

     

                                     Một thời hạnh phúc vuông tròn

                               Tưởng đâu biển cạn, non mòn chẳng lay

                                     Lời thề xưa để gió bay

                               Chung tay rồi lại chia tay nghẹn ngào

     

                                    Đêm mưa dội xuống ào ào

                              Giọt ngoài đời, giọt dội vào tận tim

                                    Giọt mưa trôi dạt niềm tin

                              Khép đôi mắt lại vẫn nhìn thấy mưa.

     

       Bài thơ đầy nỗi niềm. Một trái tim khao khát yêu thương, khao khát được vỗ về trong nỗi thất vọng, chán trường, và mệt mỏi. Tác giả hết trách đời, lại trách thân phận hẩm hiu của mình. Cố lý giải những mâu thuẫn giằng xé tưởng như không có lối thoát, bằng việc thông qua hình ảnh giọt mưa đêm. Quang Khoảng rất biết điều tiết tứ thơ, bởi vậy cách diễn tả của tác giả rõ ràng mạch lạc, hình ảnh và câu chữ chỉ khai thác đi chứ không khai thác lại. Với thể thơ lục bát, Quang Khoảng khá chắc tay. Đọc bài thơ nào của anh, ta cũng bắt gặp những câu viết bằng cảm giác, bằng sức tưởng tượng chứ không đơn thuần bằng trực giác, vì vậy thơ Quang Khoảng có hồn, có sức thuyết phục đọc giả, tránh được việc tả tình tả cảnh xuông nhạt. Nhưng nếu đem chữ ra “chẻ” thì  có những từ ngữ dùng trong bài chưa chuẩn. Như câu: “…Giọt rơm rớm ướt, giọt tầm tã rơi…”  Tra trong từ điển: “Rơm rớm” là động từ: Có nghĩa rớm ra chút ít trên bề mặt, như: Rơm rớm máu – Rơm rớm mồ hôi – Rơm rớm nước mắt…

    Tóm lại chưa thành giọt. Giọt có nghĩa là sũng nước rồi, sao gọi là:”Giọt rơm rớm” được. “Tầm tã” là tính từ,(trời mưa hay nước mắt tuôn rơi) nhiều và kéo dài mãi không dứt. Thí dụ: “Trời mưa tầm tã”  giọt: chỉ số ít, số đơn, bởi vậy không thể tả là “Giọt tầm tã” được.

       Mê mải trong vườn thơ, tôi tình cờ “vấp” vào khá nhiều trái rụng non, chín ép, hoặc ép chín khi trái chưa già, (phải dùng vồ đập như đập mít non). Trong bài “Viếng mộ Nguyễn Bính” của tác giả V.L.N, có những câu: “…Đứng bên mộ cụ gọi hồn…” Dễ làm đọc giả hiểu: Tác giả là một ông thày phù thủy, chí ít thì cũng là ông thày mo, thày cúng, nên mỏng phần thơ. Đến câu sau thì vượt qua cả sức chịu đựng của người đọc:”…Ngàn năm lưu niệm ghi công ơn Người…” Người ở đây là chỉ Nguyễn Bính! Xin thưa, ngay đến Đại thi hào Nguyễn Du, hậu thế cũng chưa có ai tung hô đến mức này! Hoặc như tác giả C.T, trong bài “Ký ức dòng sông” Có những câu:”…Lửa than vàng rẹm tóc đầu/ Miệng cười hoen nhọ đôi bầu má thơ…”

     

    Một cặp 6/ 8 lủng củng, tối nghĩa do việc ép vần, ép ý. Còn đây là những câu trong bài “Nỗi nhớ về làng” của Đ.T.V: “Mái đình đa phủ ngói son/ Tuổi thơ gọi mảnh trăng non múa rồng…” rồi “…Đò Đa Ngư chở nắng hồng, phù sa…”  Đọc mãi cũng chẳng thấy thơ đâu. Đành phải thư giãn bằng một bài vè Bút Tre:

     

                                 “Tiến lên! Ta quyết tiến lên

                           Tiến lên! Ta quyêt tiến lên hàng đầu

                                   Hàng đầu rồi sẽ đi đâu?

                            Đi đâu không biết! Hàng đầu cứ đi!!!”

     

       Nhìn chung những tác giả đã kinh qua một thời mặc áo lính, hoặc góp mặt trong đội ngũ thanh niên xung phong, thơ của họ viết về ký ức chiến tranh, về đồng đội, thường sâu và đằm. Như: Trần Tạo, Ngô Minh Trí,  Phạm Thị Nhung, Hải Hà, Ngô Quang Khoát, hoặc các nhà giáo về nghỉ hưu tại địa phương: Lã Đắc Phước, Phạm Văn Cân, Bùi Trọng Thể, Đặng Trinh Tư, Nguyễn Minh Dương…Tác giả Ngô Phong Nhã, là một trong số hội viên đó, 

                                              

                                               Cánh võng

                                     

                                       Gia tài lính có gì đâu

                               Ba lô một chiếc với câu quân hành

                                       Rừng xanh rừng xanh rừng xanh

                               Võng tăng tự mắc là thành “nhà” thôi

                                       

                                       Êm đềm như ngủ trong nôi

                                Hương rừng gợi nhớ về nơi quê nhà

     

                                       Bây giờ võng cũ mắc ra

                                Cháu ngoan ngon giấc để bà hát ru:

                                       “Quê hương sạch bóng quân thù

                                Nhớ hoài buổi ấy trăng lu cuối rừng…”

     

                                        Giọng bà ru cháu rưng rưng

                                Hồng hào cháu tựa một vừng dương lên.
     

       Đọc bài thơ của cựu chiến binh Ngô Phong Nhã, ta nhận ra niềm hạnh phúc của người lính trận trở về vô cùng giản dị. Sau bao ngày gian khổ hy sinh, họ không mơ về quyền cao, chức trọng, mà chỉ mơ một giấc ngủ yên bình cho đứa cháu đích tôn, như anh từng mơ trong bao năm chiến trận, nơi dày đặc đạn bom quân thù…Bài thơ gửi đến đọc giả một thông điệp: Dù trong hoàn cảnh nào, người lính vẫn tin tưỏng vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Niềm tin ấy đã thành sự thật, người lính thanh thản trở về với mái ấm gia đình, với lũy tre làng, góp sức lực còn lại xây dựng quê hương. Bài thơ không chọn chủ đề “Đao to, búa lớn” Chỉ là những kỷ vật thông thường, gắn bó với người lính, nhưng toát lên niềm khát vọng “Các thế hệ con cháu hãy tiếp bước cha ông, giữ vẹn nguyên mảnh đất Rồng Tiên này!” Đây chính là “Ý tại, ngôn ngoại” trong văn chương, mà người làm thơ luôn khát khao vươn tới.

          Trên đây là mâm ngũ quả “thuần Việt”, đúng với nghĩa “Cây nhà lá vườn”, được lựa chọn theo góc nhìn riêng của tôi. Trong 10 năm duy trì sinh hoạt CLB một cách thường xuyên và đều đặn, ra ngót 10 tập thơ in chung,  xuất bản nội bộ hàng mấy chục bản “Tin thơ” (Hai tháng ra một số) Hàng trăm lượt tác giả là hội viên của CLB có thơ đăng trên các báo trung ương và địa phương, như báo Hải Phòng, Tạp chí Cửa Biển, báo Người Hà Nội, báo Người cao tuổi, và còn được tuyển vào các tập thơ đồ sộ của quốc gia.Tôi nghĩ hiếm có một câu lạc bộ thơ cấp quận, huyện nào gặt hái được nhiều thành công như vậy. Cũng 10 năm ấy, có rất nhiều tác giả ra được tập thơ riêng, ít nhiều để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc. Đó là cụ Đặng Nam, chủ nhiệm CLB, bác Quang Mên phó chủ nhiệm CLB, cựu giáo chức Lã Đắc Phước, Bùi Trọng Thể, Nhà thơ trẻ Bùi Thị Thu Hằng…

       Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến sự quan tâm sát sao và giúp đỡ tận tình đầy trách nhiệm của các cấp lãnh đạo từ thành phố đến huyện, đó là Hội LHVHNT, ban tuyên giáo thành phố Hải Phòng, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, ban tuyên giáo huyện Kiến Thụy… Các nhà văn, nhà thơ của Hội Nhà văn Hải Phòng, như Nhà thơ Hồ Anh Tuấn, Trịnh Anh Đạt, Hoài Khánh, Minh Trí…Đã đồng hành cùng CLB thơ Dương Kinh suốt 10 mùa xuân qua



    thuhanghp | 01 August, 2013 05:22

     

     

    Mải theo sắc Phượng hồng hoang

    Giật mình chốc chốc bàng hoàng mây trôi

     

    Mưa mưa gió,  mưa rối bời

    Mưa cho vơi vợi mấy đời bể dâu

     

    Hạt buồn rơi phía nỗi đau

    Còn đâu nhằm những sang giàu chảy theo

     

    Mười hai con mắt trong veo

    Thương cha ôm vẹn đói nghèo ngày đi…

     

    Bờ tre Vạc nấc biệt ly

    Người nằm khắc nếp hàng mi ngậm ngùi

     

    Điếu cày lăn lóc dập vùi

    Từ đây chia đắng sẻ bùi cùng ai

     

    Cái cày ôm mộng ban mai

    Đồng chiêm đất nóng trộn ngày lẫn đêm

     

    Bấy nhiêu dự án bỏ quên

    Cánh cò mỏi mệt bắt đền chiêm bao

     

    Đồng chiêm  dáng dấp ca dao

    Cha nâng con bước chênh chao gập ghềnh

     

    Trần gian mấy đận nổi nênh

    Ngón tay đã buộc nhẹ tênh phận người

     

    Bỏ sau lưng những khóc cười

    Cha mang câu hát ru hời cao xanh

     

    Khổ thân phận giọt long lanh

    Khóc thương cha, rồi nhớ anh tím bầm

     

    Nép vào ngực núi lặng câm

    Hoàng hôn trăn trở ướt đầm tháng năm!

    Bùi Thị Thu Hằng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    thuhanghp | 03 July, 2013 09:31

    Chuyện buồn khó tin và lời cầu chúc nhà văn Lê Lựu

    Đõ Quang Hạnh
    Thứ bẩy ngày 29 tháng 6 năm 2013 3:53 PM



    Khôngphải chỉ gần đây, mà chuyện buồn đến với nhà văn Lê Lựu cũng đã dăm năm rồi,sau khi chia tay người vợ thứ hai, ông đã “từ con” khi vợ con quyết định “giảitán” ngôi nhà tại Lý Nam Đế (Hà Nội). Đường ai nấy đi và Lê Lựu có phần 2 tỉsau khi bán nhà. Mấy năm nay bị ốm đau bệnh tật, ông chủ yếu sống tại Trung tâmVăn hóa Danh nhân - đường Tam Trinh, Hà Nội - nơi ông là Giám đốc. Và cũng theomột tờ báo và dăm tờ báo mạng cùng trang mạng cá nhân, nay nhà văn Lê Lựu đang quyết đòi lại sổ đỏ “mảnh đất hương hỏa” tại quê nhà…

    Những chuyện có thể nói là rất buồn ấy nhiều người gần gũi với nhà văn Lê Lựu đã biết rõ từ khá lâu rồi. Cũng đã hơn hai năm, tôi mới có dịp đến thăm ông. Còn nhớ dạosau Tết Tân Mão 2011, vợ chồng nhà báo Hữu Tính (nguyên Trưởng Văn phòng đại diện Báo Lao Động tại TP.HCM) là người bạn học cùng quê, huyện Khoái Châu, Hưng Yên đưa tôi đến mảnh đất “hương hỏa” của Lê Lựu. Khi ấy ông còn khá khỏe, chỉcó đôi chân rất yếu. Trí nhớ còn tốt và tương đối linh hoạt, khi nói thìnhthoảng có nước mắt nhưng vẫn hay cười… Thế nhưng buổi trưa ngày ngày 20.6 này,dường như mọi việc đã khác hơn nhiều. Khi nhà báo Hữu Tính, nhà văn Trung TrungĐỉnh (vốn là đàn em thân quý của Lê Lựu từ hồi còn ở tạp chí Văn nghệ Quân Đội)và tôi - cũng đã quen biết nhà văn Lê Lựu khoảng 30 năm - đến thăm và có ý địnhrủ ông về quê chơi.
    Ôngvừa ăn xong, da dẻ vẫn khá, có thể tự đi lại với chiếc gậy nhưng vẻ như thầnsắc không được tốt lắm. Ông nói khó khăn hơn dù vẫn rành rẽ, nhưng không khócvà cũng thiếu vắng nụ cười. Lê Lựu vẫn ở trong mình một căn phòng tại tầngtrệt, có gióng tập đi, có máy tập - sau này được biết là của con gái, chị LêThị Lương mua tặng bố, vẫn có cán cán bộ, nhân viên của Trung tâm Văn hóa Danhnhân chăm sóc… Chúng tôi đã nói với ông về những mong mỏi không chỉ của mình màcó lẽ là của nhiều người thân thiết, gần gũi ông rằng, tuổi ông đã cao, sức đãyếu nên điều cần nhất giờ đây là sức khỏe, là ổn định, sống bình tâm, thanh thảnđể hy vọng ông còn có thể cầm bút viết tiếp. Nhưng Lê Lựu không mặn mà lắm vớinhững lời như thế. Ông vẫn đau đáu và trầm uất vì việc muốn “đòi lại” sổ đỏ.Ông không về quê và nói: “Mẹ con nó (bà Hoàng Thị Mỹ - vợ đầu đã ly dị và congái - chị Lê Thị Lương) muốn thì đến đây”. Sau đó ông viết vào giấy nhờ nhà báoHữu Tính một (việc) như sau: Khi chúng tôi hỏi ông cần gì bởi Hữu Tínhđang mời chúng tôi về quê. Ông vẫn nói về sổ đỏ và rằng theo lời khuyên của bácsĩ, ông phải ăn nhiều rau quả nên ông muốn có “quyền trồng cây cối hoa mầu (trên)mảnh đất ấy” và bà Mỹ “phải viết giấy cam đoan là không phá hoại hoặc ngăncấm”.


     
    Chúngtôi về Khoái Châu với lòng nặng trĩu vì chuyện buồn thật khó tin này. Sự thậtvề mảnh đất ấy chẳng có gì là khó hiểu. Là bạn đồng hương, nhà báo Hữu Tính rõhơn chúng tôi. Nhưng việc bạn nhờ, ông vẫn làm. Sau khi đưa tờ giấy Lê Lựuviết, chị Lê Thị Lương đã đưa mẹ ký vào tờ giấy cam kết: “Thực tế tôi chưa baogiờ ngăn cản ông và đến nay tôi vẫn cam kết và mong muốn ông Lê Lựu về cùng concháu cúng giỗ tổ tiên, trồng rau ở vườn không bao giờ tôi ngăn cản”. Chị Lươngnói rằng, gia đình luôn tha thiết mời bố về quê nhà tĩnh dưỡng nhưng ông khôngchịu và đã đưa ông nhiều lần chìa khóa nhà cửa ở quê nhưng do ông làm mất hoặcđể quên đâu đó, chứ không ai ngăn cản ông về thăm quê, về quê nghỉ ngơi. Chịđưa cho chúng tôi xem “Biên bản họp gia đình bàn về quyền sử dụng đất thổ cư”ngày 18.4.2012 của gia đình ông Lê Lựu tổ chức tại thôn Mân Hòa, xã Tân Châu,Khoái Châu, Hưng Yên bao gồm “ông Lê Lựu, bà Mỹ, chị Lê Thị Lương” cùng một sốhọ hàng, cháu trai của ông Lê Lựu.
    Nộidung đã thống nhất hai điều: 1. Ông Lê Lựu có quyền sử dụng mảnh đất và tài sảntrên mảnh đất này đến khi từ trần. 2. Sau khi ông Lê Lựu và bà Hoàng Thị Mỹ mấtđi, mảnh đất này sẽ được giao cho con gái: Lê Thị Lương toàn quyền sử dụng vớimục đích thờ cúng tổ tiên, cha mẹ, chị Lương không được chuyển nhượng cho ai vàanh Lê Văn Soát (cháu trưởng) là người đứng ra tổ chức cúng giỗ tổ tiên giađình hàng năm. Biên bản được xác nhận của chính quyền từ thôn, xã đến tận UBNDhuyện, là một việc hiếm có, bởi nhà văn Lê Lựu là danh nhân quê hương của cảHưng Yên, luôn được quý trọng, nể vì.
    Ấythế nhưng mọi việc không theo những chuẩn mực và những nguyên tắc đã được toànbộ những người trong cuộc thống nhất, thừa nhận. Chúng tôi không hiểu sao lạicó những bài đăng trên báo viết, trên báo mạng cùng những trang mạng cá nhân đãnói sai sự thật để đến mức chính các cháu ruột của nhà văn Lê Lựu cũng nhất mựcphản đối. Ngày 15.6.2013 trai họ gồm Lê Văn Soát (cháu trưởng) cùng các anh LêĐộng, Lê Văn Tảo, Lê Văn Trại viết đơn phản ứng quyết liệt vì những nội dungkhông đúng của một bài báo đã “gây tổn hại đến uy tín và danh dự gia đình vàgây ra sự bức xúc cho con cháu anh em, mất ổn định trong gia đình”. 
    Mộtsố nhà báo, nhà văn từng viết để “bình vực”, “thương cảm” Lê Lựu cũng là bè bạncủa chúng tôi và có thể họ chưa có điều kiện biết được tất cả sự thật, cái lývà cả cái tình trong những chuyện buồn của một nhà văn đáng quý của chúng ta.Vì thế, những người gì viết về ông cũng nên thông cảm. Chỉ có điều, chúng tôinghĩ, điều quan trọng chính là ở nhà văn Lê Lựu. Chuyện lý chuyện tình sẽ rasao khi ông cứ đòi chuyển tên sổ đỏ của người vợ đầu (đã ly dị) trong khi bà ấychỉ có một đứa con với ông, không hề đi bước nữa, bao năm qua vẫn ở ngôi nhà ấytại quê hương ông, chăm sóc bố mẹ ông cho đến khi họ mất - sang tên mình? Ngaycả việc có sổ đỏ tên ông - dù rằng vô cùng là khó, bởi rất phi lý - thì ôngđược hay mất, cái gì nhiều hơn, hay là chỉ cay đắng, đau đớn không chỉ với ôngmà còn là của những người thân trong gia đình, dòng tộc?
    LêLựu không phải là một người thiếu thốn về vật chất. Điều đó là rõ ràng. Nhưngnay ông thấy còn thiếu gì, cần những gì thì có lẽ chỉ mình ông mới hiểu được.Mong sao nhà văn Lê Lựu tỉnh táo, tường minh, vững vàng và có nghị lực mạnh mẽ.Nhưng hình như, người đời thường nói, nhà văn, nghệ sĩ là kiếp người bị “trờiđầy”, hay phải cô đơn, gian nan vất vả, nên Lê Lựu cũng như thế chăng? Mong saomọi việc tốt đẹp hơn sẽ đến với ông trong những năm tháng nhiều thử thách này.Chúng tôi viết bài này với niềm mong mỏi cùng lời cầu chúc nhà văn Lê Lựu nhưthế. 

     

    thuhanghp | 11 June, 2013 22:03

     

     

     


    Mục Lục
    altCâu Chuyện Thầy Lang : Tình dục ở Người Tuổi Cao.
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Dùng Cần Sa ở thanh thiếu niên
     Câu Chuyện Thầy Lang : Nhìn Da Chuẩn Đoán Bệnh
     Câu Chuyện Thầy Lang : Khám Nhũ Hoa, Tìm Ung Thư Vú - 10/2012
     Câu Chuyện Thầy Lang : Đo Huyết Áp Đúng Cách
     Câu Chuyện Thầy Lang : Són Tiểu
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Virus West Nile
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Chân Không Chịu Nghỉ
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Test Tube Baby
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Đau Thắt Lưng
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Vai trò của DINH DƯỠNG
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Thủ Dâm
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Chuyện Lạ Y học Việt Nam
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Trái Dứa, Sỏi Thận, Phèn Chua
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Khóc
     Câu Chuyện Thầy Lang : Rủi Ro Quần Áo Giặt Khô
     Câu Chuyện Thầy Lang : Thay Tim
     Câu Chuyện Thầy Lang : Loại Bỏ Bệnh Lao Trong Đời Mình
     Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Của Động Mạch Vành
     Câu Chuyện Thầy Lang : Sớm Xuất Tinh
     Câu Chuyện Thầy Lang : Chuột Rút
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Vài điều cần biết về Thuốc Ngủ.
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Bà Bầu
     Câu Chuyện Thầy Lang : Run Tay
     Câu Chuyện Thầy Lang : Trí Nhớ
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Mộng Du
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Sống Với Viêm Khớp
     Câu Chuyện Thầy Lang : Phòng Ngừa Sâu Răng
     Câu Chuyện Thầy Lang : Đối Phó Với Dị Ứng
     Câu Chuyện Thầy Lang : Khám Nhũ Hoa, Tìm Ung Thư Vú
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Viêm Gan B
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Đầu Thu Xin Chích Ngừa Flu
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Thở
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Thay Thận
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bạo Hành Gia Đình
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Chích Ngừa và Khai Trường
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Miệng Khô
    * Câu Chuyện Thầy Lang : “Man Best Friend” với y khoa học
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Xả Stress
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Cách Dùng Insulin
     Câu Chuyện Thầy Lang : Ảnh hưởng của nắng trên cơ thể
     Câu Chuyện Thầy Lang : Điều Trị Phục Hồi Sau Đột Quỵ
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Ghiền Sex
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Chăm Sóc Cha Mẹ Lú Lẫn
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Dinh Dưỡng ở Người Tuổi Cao
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Hiến Thân Xác Cho Y Khoa Học
    Câu Chuyện Thầy Lang : Giải Trí Tuổi Già
    Câu Chuyện Thầy Lang : Tăm hơi
    Câu Chuyện Thầy Lang : Giải Đáp Sức Khỏe Qua V.O.A.
    Câu Chuyện Thầy Lang : Sớm Khám Phá Ung Thư Ruột Già
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thực Phẩm và Hạt Phóng Xạ
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Có Thai Đi Máy Bay.
     Câu Chuyện Thầy Lang :  Mấy Ngộ Nhận Về Bệnh Tim
     Câu Chuyện Thầy Lang : Bàn vế giấc ngủ
     Câu Chuyện Thầy Lang :  Sinh Tố
     Câu Chuyện Thầy Lang : Bảo vệ Sức Khỏe Trên Du Thuyền
     Câu Chuyện Thầy Lang :  Tránh Rủi Ro Tự Dùng Thuốc.
     Câu Chuyện Thầy Lang : Muôn Người Hạnh Phúc Chan Hòa
     Câu Chuyện Thầy Lang : Gan Nhiễm Mỡ
     Câu Chuyện Thầy Lang : Trẻ em bắt nạt trẻ em
     Câu Chuyện Thầy Lang :  Khi Miệng Hết Thơm
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm.
    Câu Chuyện Thầy Lang : Công dụng của chất xơ.
    Câu Chuyện Thầy Lang : Những Con Số HÊN cho Sức Khỏe
    Câu Chuyện Thầy Lang : Hạt Ngắn Hạt Dài, Đỏ hay Trắng
    Câu Chuyện Thầy Lang : Con Trẻ Chơi Game
    Câu Chuyện Thầy Lang : Món Cá Quê Hương
    Câu Chuyện Thầy Lang : Khoáng Chất Trong Cơ Thể
    Câu Chuyện Thầy Lang : Sống Với Thận Suy
    Câu Chuyện Thầy Lang :   Một Vài Ly Rượu với Sức Khỏe
    *  Câu Chuyện Thầy Lang : Ngày Thánh Mẫu 2010
    *  Câu Chuyện Thầy Lang : Nấm
    *  Câu Chuyện Thầy Lang : Mệt Mỏi Kinh Niên
    Câu Chuyện Thầy Lang : Hậu Quả của Dầu Tràn
     * Câu Chuyện Thầy Lang : Xét Nghiệm Truy Tìm Bệnh   
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Thời Sự Y Học 2/7/2010
    Câu Chuyện Thầy Lang : Mua Láng Giềng Gần 
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Mua Dược Phẩm Qua Internet
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Ông Bà và Các Cháu
    Câu Chuyện Thầy Lang : Dinh Dưỡng ở Tuổi Già  
    Câu Chuyện Thầy Lang : Phòng Tránh Rủi Ro Khi Làm Đẹp Móng 
    Câu Chuyện Thầy Lang : Điều Trị Cấp Cứu
    Câu Chuyện Thầy Lang : Để Giảm Chi Phí Khám Chữa Bệnh
    Câu Chuyện Thầy Lang : Vấn Đáp Ẩm Thực
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Rủi Ro Điện Đàm Khi Lái xe
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Phòng Tránh Bệnh Trong Tháng Ba
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Người Việt trên đất Mỹ
    Câu Chuyện Thầy Lang : Nữ Giới với Bệnh Tim
    Câu Chuyện Thầy Lang : Rượu Xuân nên uống vừa thôi
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Viagra và Đồng Nhóm
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Quyết Tâm Đầu Năm
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Viên Aspirin với Bệnh Tim
     Câu Chuyện Thầy Lang : ASPIRIN, viên thuốc đa dụng 
    Câu Chuyện Thầy Lang : Ám ảnh sợ xã hội
    Câu Chuyện Thầy Lang : Dược Thảo
    Câu Chuyện Thầy Lang : Tản Mạn về BIA
    Câu Chuyện Thầy Lang : Quyết Định Trước Trong Y Khoa
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thận Trọng với Thuốc Ho, Cảm lạnh
    Câu Chuyện Thầy Lang : Ảnh hưởng của rượu trên thai nhi
    Câu Chuyện Thầy Lang : PHO- MÁT
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Tiến bộ của phẫu thuật
    Câu Chuyện Thầy Lang : Dinh Dưỡng Khi Có Thai  
    Câu Chuyện Thầy Lang :   Hội Chứng “ Ngồi Lê Đôi Mách”
    Câu Chuyện Thầy Lang : Vài vấn đề y tế cần lưu ý
    Câu Chuyện Thầy Lang : Khoảng cách thế hệ
    Câu Chuyện Thầy Lang : Có Chăng Món Ăn Kích Dục
    Câu Chuyện Thầy Lang : Cảnh Giác Với Bệnh Tật
    Câu Chuyện Thầy Lang : Hãy Là Một Bệnh Nhân Sáng Suốt
    Câu Chuyện Thầy Lang : Tráí cây
    Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh thường thấy ở mắt
    Câu Chuyện Thầy Lang : Huyết Áp Thấp
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Phòng ngừa rủi ro Nắng Hạ
    Câu Chuyện Thầy Lang : Những xét nghiệm cần thiết
    Câu Chuyện Thầy Lang :   … Cái Tóc Là Góc Con Người
    Câu Chuyện Thầy Lang : Cúm Heo
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thuốc Ở Trong Rau
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Phì Đại Nhiếp Tuyến
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thịt Ðỏ, Thịt Trắng
    Câu Chuyện Thầy Lang : Sớm Khám Phá Ung Thư Ruột Già
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Bệnh Do Răng Miệng Mà Ra
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Thượng Thổ, Hạ Tả
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thái Độ Trước Sự Hóa Già
    Câu Chuyện Thầy Lang : Nước ngọt có gas
    Câu Chuyện Thầy Lang : Lái Xe An Toàn, Thân Thiện
    Câu Chuyện Thầy Lang : Cho và Ghép Bộ Phận Cơ Thể
    Câu Chuyện Thầy Lang : Để Có Một Nếp Sống Lành Mạnh
    Câu Chuyện Thầy Lang :  An Toàn Sức Khỏe Mùa Đông
    Câu Chuyện Thầy Lang :  Hậu Quả của Sự Thiếu Ngủ
    Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Loãng Xương
    Câu Chuyện Thầy Lang : Còn lại đôi ta
    Câu Chuyện Thầy Lang : Ung Thư Gan
    Câu Chuyện Thầy Lang : Vấn đề Tâm Bệnh ở Người Cao Tuổi
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Vài thắc mắc về Ung Thư Vú
    Câu Chuyện Thầy Lang : Thói Quen Tốt, Xấu
    Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Lo Âu
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Zona-Thần-Kinh
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Trung Tâm Chăm Sóc Ban Ngày
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Để Giảm Thiểu Căng Thẳng Đời Sống
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Đôi điều về cà phê, nước uống
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Đau Tim, Tức Ngực
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Dược Phẩm Hết Hạn
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Bệnh Gai Cột Sống
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Âm Thanh Ồn: Ô Nhiễm Vô Hình
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Mạn Đàm, Trò Chuyện
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Ngộ Độc Thực Phẩm
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Hút Mỡ
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Ý kiến thứ hai
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Tay-Chân-Miệng
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Lại Nói Về Sinh Tố, Khoáng Chất.
    * Câu Chuyện Thầy Lang :   Thuốc Vờ- Hiệu quả Placebo
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Phòng Tránh Bệnh Tim Mạch
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Nhiệt độ cơ thể và Sốt
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Sinh Tố D và Ánh Sáng Mặt Trời.
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Bệnh Thường Thấy Ở Mắt
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Ung Thư Ruột Già
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Lao-Kháng-Nhiều-Thuốc
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Thuốc Chống Trầm Cảm
    *  Câu Chuyện Thầy Lang : Bao Tử Với Sự Tiêu Hóa Thực Phẩm
    *  Câu Chuyện Thầy Lang : Tình Bằng Hữu-Bạn Già
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Có cần dùng thêm sinh tố E?
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Da khô mùa đông
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Tâm sự với người Y Sĩ
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Những quyết tâm đầu năm
    * Câu Chuyện Thầy Lang : NGHIỆN RƯỢU
     Câu Chuyện Thầy Lang : Chặn Đứng bệnh AIDS ở trẻ em
     Câu Chuyện Thầy Lang : Vài Điều Nên Biết Khi Đi Máy Bay
     Câu Chuyện Thầy Lang : Lợi Hại của Chất Béo
     Câu Chuyện Thầy Lang : Hiểu Rõ Y Sử Gia Đình
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Thực Phẩm Chức Năng
    * Câu Chuyện Thầy Lang : Bệnh Thống Phong  -  (GOUT)
    * Câu Chuyện Thầy Lang : “Hâm Nóng Toàn Cầu” và Sức Khỏe
    * Câu Chuyện Thầy Lang :  Tại Sao Cần Uống Nước?

     

    thuhanghp | 22 March, 2013 13:39

    Sau vòm lá

    Nón trắng sau vòm lá
    Xạc xào, xào xạc che
    Chở che hình bầu ngực
    Xanh bím tóc xuân về

    Con chiền chiện say hát
    Lời phập phồng xòe hoa
    Trái mở lòng nõn lá
    Hương len ngần thịt da

    Vầng trăng em mười sáu
    Môi hồng cánh hoa đào
    Tóc chấm vai áo trắng
    Chạm gì cũng xốn xao

    Nấp thấp sau vòm lá
    Thập thò ánh mắt quen
    Thẹn thùng nhau như thể
    Cả mây trời lên men

    Bùi Thị Thu Hằng

    Viết ngày 22/3/2013

    thuhanghp | 16 February, 2013 15:18

    Thanh sắt và ổ khóa

     

     

    Bức tường vô tâm thanh sắt gắn ố vàng

    Chiếc khóa không leng keng giọt dầu cạn kiệt

    Hai cánh cửa vờ vấn vít lấy nhau

    Chứ thực lòng chúng muốn tách khỏi thế giới này

     

    Khi những đôi tay không còn dịu dàng tra vào ổ khóa

    Người đàn ông và người khác giới trở lên xa lạ

    Trái tim đã rời ngôi nhà từ kiếp trước

    Sao kiếp này bị nhốt nơi đây

    Sao kiếp này đọa đầy nơi đây

     

    Họ còn khổ hơn người bị bệnh dạ dày

    Họ còn đau hơn bệnh nhân nhồi máu cơ tim

    Vì nỗi đau thế xác còn có người vỗ về

    Còn có thuốc để chữa

     

    Họ thờ ơ với vật dụng trên đời

    Huống hồ chỉ là thanh sắt ố vàng trên bức tường cũ

    Chỉ là chiếc khóa khô dầu trên cánh cửa gỗ mọt

    Thanh sắt buồn thanh sắt làm ngơ

    Ổ khóa cô đơn ổ khóa làm thơ

    Thôi thôi kệ, kệ thôi... thôi kệ...

    Những thắng thua được mất rã rời

    Những mặt người thời gian ngục tối

    Kệ trăm năm và kệ kiếp người.

     

    BTTH

     

     

     

     

     

    thuhanghp | 29 January, 2013 20:58

     

     

    Ban an toàn giao thông Hải Phòng đón năm mới với danh hiệu Cúp vàng

    Ngày 31/12/2008 đội tuyên truyền viên pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa thành phố Hải Phòng đến Cung văn hoá thể thao thanh niên Hà Nội tham gia vòng chung kết cuộc thi tìm hiểu luật giao thông đường thuỷ nội địa, do Uỷ ban giao thông Quốc gia, Tổng cục cảnh sát - Bộ công an, Đài tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức. Thành phố Hải Phòng đã nhận được danh hiệu Cúp vàng của hội thi. Cuộc thi tìm hiểu luật giao thông đường thuỷ nội địa toàn quốc gồm có các đội đến từ ba vùng miền cả nước, 10 đội đã được lựa chọn qua các vòng thi cấp cơ sở, cấp thành phố và cấp cụm, gồm có: Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thái Bình, Tiền Giang, cà Mau, Bà Rịa Vũng Tàu, Bạc Liêu, Quảng Trị, Đà Nẵng. Mỗi đội đã thể hiện xuất sắc kiến thức hiểu biết, tài năng ứng xử tình huống, khả năng diễn xuất… và mang đến hội thi những tiết mục đặc sắc để lại nhiều ấn tượng đẹp đẽ về hội thi.

    Hội thi tìm hiểu luật giao thông đường thuỷ nội địa vòng chung kết gồm có các phần: Chào hỏi, tìm hiểu kiến thức, tuyên truyền bạn và tôi hãy hành động vì bình yên sông nước quê hương. Khác với các vòng thi trước vòng thi này màn chào hỏi của các đội được cộng điểm. Các đội đã chuẩn bị công phu các tiết mục nghệ thuật ấn tượng giới thiệu sông nước quê hương, tính cách con người vùng đất, đặc thù địa lý địa phương… đầy tự hào. Bằng những làn điệu dân ca đặc trưng vùng miền. Đội Hải Phòng có tiết mục chèo do đội văn nghệ phường Minh đức, quận Đồ Sơn thể hiện, tiết mục được đánh giá cao so với các tiết mục hò xứ nghệ, vọng cổ miền tây Nam Bộ, dân ca quan họ bắc Ninh… của các đội bạn.

    Phần thi tìm hiểu kiến thức cũng rất cuốn hút người xem, hầu hết các thí sinh đã nắm bắt được kiến thức luật giao thông đường thuỷ nội địa nên phần tìm đáp án đúng cho câu hỏi  trắc nhiệm khá chính xác. Phần thi chọn tình huống để xử lý các tuyên truyền viên đã đem hết khả năng tâm huyết của mình để truỳên tải cảm xúc vào nội dung trả lời và có liên hệ bổ xung với những thực trạng đã diễn ra tại địa phương mình. Hội trường được hâm nóng bằng những làn sóng reo hò của các cổ động viên khi đội mình nhanh tay bấm chuông bổ xung cho câu hỏi tình huống và được cộng điểm khi đội bạn trả lời còn thiếu. Phần thi này tuyên truyền viên Thu Hằng đội Hải Phòng cũng được ban tổ chức và người xem đánh giá là một trong những tuyên truyền viên xuất sắc trả lời lưu loát đúng các điều khoản của luật giao thông đường thuỷ nội địa do Chính phú ban hành, diễn xuất truyền cảm, liên hệ bổ xung cũng sâu đậm, ý nghĩa. Thông điệp về trật tự an toàn giao thông đường thuỷ nội địa được đưa ra rất dịu dàng thuyết phục, cuốn hút người nghe.

    Hấp dẫn nhất vẫn là phần thi “ Bạn và tôi hãy hành động vì bình yên sông nước quê hương”. Chỉ có 15 phút thể hiện nhưng các đội đã mang đến với cuộc thi những câu chuyện xúc động, có nội dung, tính nghệ thuật phong phú, hình thức thể hiện là các tiểu phẩm, kịch sân khấu được xây dựng dựa trên những sự kiện đã sảy ra ở địa phương hay những vấn đề còn tồn tại trên đường thuỷ. Nội dung được đề cập nhiều nhất của các đội là vấn đề đảm bảo an toan giao thông đò ngang. Riêng đội Hải Phòng đã mang đến hội thi một tiểu phẩm ấn tượng, tiểu phẩm “Tôi hiểu ra rồi” dí dỏm, hài hước của tác giả Đức Doan (Chủ tịch Hội nông dân phường Minh Đức) được các vai diễn Thu Liền, Đức Duy, Minh Chính, Duy Khanh cùng dàn nhạc cụ dân tộc phường Minh Đức thể hiện rất ấn tượng.

    Sau một ngày làm việc Ban giám khảo phải vất vả lắm mới lựa chọn ra một đội đế trao giải thưởng Cúp vàng duy nhất của cuộc thi. Cuối cùng danh hiệu cúp vàng được trao cho đội Hải Phòng. Khó có thể kể xiết nỗi niềm hân hoan của Ban lãnh đạo Hội nông dân, ban an toàn giao thông thành phố, cùng các thành viên tham gia, các cổ động viên thành phố Hải Phòng khi nhận được giải đặc biệt và Cúp vàng của cuộc thi. Giải nhất thuộc về tỉnh Quảng Ninh, giải nhì thuộc về tỉnh Ninh Bình và tỉnh Cà Mau, các đội còn lại là giải ba và giải khuyến khích. Các đội dù được giải cao hay không được giải cao đều tự hào khi nhận được Bằng khen của Uỷ ban giao thông Quốc gia.

    Hội thi là dịp để các đội dự thi có điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiêm về tuyên truyền luật giao thông đường thuỷ nội địa. Ban tổ chức cuộc thi mong muốn sau cuộc thi các thí sinh sẽ là những hạt nhân tuyên truyền phổ biến pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa ở nơi công tác hay nơi đang sinh sống của mình. Đặc biệt là thành phố Hải Phòng, thành phố có hệ thống cảng biển lớn, có hệ thống sông ngòi dày đặc, vùng đất giao thương của miền duyên hải bắc Bộ, nối liền với thị trường thế giới thông qua hệ thống cảng biển ,nên việc giáo dục pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa qua cuộc thi là vô cùng cần thiết. Danh hiệu Cúp vàng của thành phố Hải Phòng còn là một động lực cho Ban an toàn giao thông đường thuỷ nội địa thành phố phấn đấu làm tốt hơn nhiệm vụ của mình về việc giữ gìn sự bình yên cho sông nước quê hương

                                                    Bùi Thị Thu Hằng

     

     

     

     

     

    thuhanghp | 03 January, 2013 22:11

    Tiễn em lên đường

    Hoài Khánh | 27/06/2012, 16:01

    Mai em đi rồi phố Cảng khuất sau lưng
    Những bẻm mép bon chen cũng chìm vào bóng tối
    Bỏ mặc những giao lưu dở hơi, những lời khen vờ đến thối
    Để nhẹ lòng bước về phía chân mây
     
    Những buổi tập huấn văn chương nhạt nhòa dở hay
    Như cú hích đớn đau cho tâm hồn thơ tóe máu
    Những ồn ã xô bồ và những nghĩ suy nương náu
    Mượn con chữ ùa ra
     
    Cứ vững dạ bước đi thêm chữ nghĩa thêm bạn bè
    Tâm hồn lớn phải chọn khung trời lớn
    Khóc chiếc điếu cày và cười cùng làn khói bay lởn vởn
    Xuất thần tư tưởng nhân văn
     
    Biết là em còn gặp nhiều khó khăn
    Đường văn chương chẳng khi nào phẳng lặng
    Anh vẫn tin và hi vọng vào trời xanh mây trắng
    Mỗi dịp thu về lại sáng một vầng trăng.

    Hoài Khánh 

    thuhanghp | 21 December, 2012 17:15

     

    Chắp tay bái tạ đất trời

    Tơ tằm mai mối cho người phong ba

     

    Tạ ơn dưỡng dục xưa xa

    Nâng niu hoa huệ nõn nà trao anh

     

    Bởi chưng con mắt biển xanh

    Dìm nhau đắm đuối chòng chành mê say

     

    Anh còn canh giấc tóc mây

    Em đừng thả rối tháng ngày bình yên

     

    Đã từng ghềnh thác trăm miền

    Lưng tựa ngực gió ngủ bên thú rừng

     

    Chạm gần bùa ngải ngại ngùng

    Lời yêu có lửa thổi bùng sợ đau

     

    Mẹ cha chọn bảy trái cau

    Với năm cơi trầu cánh phượng quết vôi

     

    Trăng non mấy chục cặp môi

    Uống nhau bằng rượu lính ngồi chật sân

     

    Cả làng chúc  phúc đôi tân

    Phút giây nghèn nghẹn hương xuân dậy thì

     

    Thương chàng lính trẻ ngại chi

    Bỗng dưng khóc ướt bờ mi cỏ hiền

     

    21/12/2012

     

     

     

     

     

     

     

     



    thuhanghp | 07 December, 2012 22:21


     

    Trên tay tôi là tập bản thảo khá dày dặn, đây là kết quả lao động trí óc miệt mài của những người có tâm hồn thơ phong phú được sinh ra ở một miền quê nhỏ, vùng quê có gốc đa, giếng nước, luỹ tre làng, với truyền thống anh hùng  cách mạng. Thôn Nhân Trai – xã Đại Hà từ thở ấu thơ tôi, những năm tháng của thập kỷ tám  mươi đã để lại nhiều ký ức êm đềm, nay đọc dòng cảm xúc của những người con của quê hương được ghi lại bằng thơ không khỏi bồi hồi. Trong không khí khởi sắc của nền thơ ca cả nước hôm nay, có sự đóng góp riêng và đặc trưng của những miền thơ, những câu lạc bộ thơ, dòng thơ hôm nay chảy như dòng sông lúc ồn ào, mạnh mẽ, lúc thầm thì lắng đọng dọc theo dải đất cong cong hình chữ S. Những người con của miền đất Nhân Trai cũng hoà cùng dòng chảy đó, họ đang chuẩn bị cho một mùa xuân với biết bao dự cảm của “Nhân Trai những tâm hồn thơ”.

    Đến với xứ sở thơ của miền quê Nhân Trai người đầu tiên tôi muốn nói đến, nói một cách tự hào đầy kính nể đó là nhà thơ Quang Mên (Ông xứng đáng được gọi là nhà thơ), sở dĩ khi đặt ra vấn đề để nói cho phù hợp tôi cũng cân nhắc rất nhiều. Nhà thơ Quang Mên có thơ đăng trên các báo Trung ương và địa phương từ năm 1968, cái thời mà người ta đang vật vã với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm thì thơ của nhà thơ Quang Mên đã xuất hiện đều đặn trên các mặt báo, thơ của nhà thơ Quang Mên lúc bấy giờ như một nhành lúa xanh non đang vươn lên đón chờ ánh sáng bình minh, hoặc như một sự động viên khuyến khích tinh thần chiến đấu của toàn Đảng, toàn quân và nhân dân “Tiếng thơ át tiếng bom”. Từ năm 2005 tôi mới bước vào làng thơ Hải Phòng, người tôi học tập và giúp tôi phấn đấu để trưởng thành là nhà thơ Quang Mên. Nhà thơ chân quê lặng lẽ chiêm nghiệm, lặng lẽ viết, thơ ông là những điều chân thành đã được trải nghiệm từ cuộc sống, dù là tuổi đã cao nhưng mạch thơ ông vẫn tuôn chảy như thuở tráng niên.

    “Trăng sáng quá làm sao ngủ được

    Ta cầm tay điểm hẹn sánh đôi

    Nơi thanh vắng níu lời hẹn ước

    Thắp ánh vàng đắm đuối bờ môi”

    Đó là những vần thơ tình, rất tình mà không riêng tôi, giới trẻ yêu thích thơ ở Hải Phòng cũng thích khi bài thơ xuất hiện trên báo (Hải Phòng cuối tuần).

    Người tôi muốn nói đến tiếp theo như một sự tiếp nối thế hệ đi trước là tác giả trẻ Bùi Thị Quỳnh Nga. Ở Kiến Thuỵ các cô bác hay gọi em là “Hạt giống đỏ của quê hương”. Em đến với thơ rất sớm, từ năm tháng còn là cô bé học trò trường Tiểu học cơ sở Đại Hà em đã có thơ in trên các báo văn nghệ, lĩnh giải thưởng của cuộc thi năm mươi năm thành tựu giáo dục Hải Phòng, rồi em đĩnh đạc thể hiện tên tuổi trong cuốn “Nước non một dải”, tuyển thơ “Tình yêu quê hương đất nước”, cuốn sách dày mấy nghìn trang bên cạnh tên tuổi những nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam (Nhà thơ Quang Mên cũng đóng góp tác phẩm ở cuốn đó). Nhà thơ Hoài Khánh là người chuyên sáng tác thơ cho thiếu nhi ở Hải Phòng, hiện đang là Phó chủ tịch hội nhà văn Hải Phòng đã từng  xem em là một hiện tượng thơ. Những thành quả em gặt hái được cũng phải kể đến công ơn “Một sương hai nắng”, chăm sóc, nâng niu, cả bồi dưỡng ban đầu của ông nội em, một tác giả có tên tuổi sáng giá ở huyện Kiến Thuỵ đó là tác giả Quang Khoảng, cùng với tác giả Quang Mên, tác giả Bùi Thị Quỳnh Nga, ba người đó họ cùng làm lên diện mạo thi ca cho miền quê Nhân Trai. Chúng ta khâm phục và tự hào về họ lắm chứ. Hiếm thấy ở miền quê nào lại có phong trào nhà nhà làm thơ... như ở Nhân Trai. Trong cuốn “Nhân Trai những tâm hồn thơ” tôi đã tìm ra có những gia đình đến ba thế hệ làm thơ, có thơ in trong tập.

    Tôi không dông dài về các cây đa, cây đề thơ ca ở Nhân Trai nữa, sợ đi quá lại không đúng vấn đề đưa ra ở tiêu đề bài viết. Tôi xin lật từng trang bản thảo để tìm ra những câu thơ hay, như người ta đang tìm những hạt vàng trong mùa màng bội thu.

    Có một nỗi cháy bỏng của người thơ như thế này lẽ nào ta không tin, không yêu.

    Trời chiều nghiêng bóng đổ

    Hoa Phượng đỏ bên đường

    Em đi xanh màu áo

    Mái tóc thoảng mùi hương

    (Nắng chiều hoa Phượng- Bùi Thành Hiến)

    Và đây nữa sự nghẹn ngào trong nỗi mất mát, nhưng người thơ vẫn tin cậy vào sự ấm áp của tình đời, tình người, tình quê. Giọng thơ của tác giả Bùi Thế Khải mang đậm phong cách trữ tình, truyền thống, nhưng đọc vẫn thấy mới, lại có cách nhận, cách nhìn tung phá , nhờ sự sắc sảo, sự dụng công tu từ, và nhất là tác giả còn biết biến ảo rất linh hoạt.

    Bâng khuâng chiều đưa tiễn

    Chẳng ai nói lên lời

    Gió thoảng hương thiên lý

    Cho lòng thêm rối bời

    (Hoa Thiên Lý – Bùi Thế Khải)

    Lưng ong thấp thoáng bên thềm

    Hong phơi mái tóc thả mềm bờ vai

    (Bóng chiều – Bùi Thế Khải)

    Cảm nhận của tôi xuyên suốt tập thơ vẫn là sự thống nhất và ổn định bút pháp, mỗi người khẳng định một nét chạm khắc, một tầng vỉa khác nhau, rất sâu sắc trong trầm tích của cảm xúc và tư duy. Cảm nhận nối tiếp của tôi là bắt gặp một giọng thơ rất trẻ của một bậc cao lão, khi tác giả viết về giọt mưa đêm, cái trẻ, cái khoẻ ẩn sau sự điềm đạm và mực thước, từng trải nhiều chiêm nghiệm.

    Giọt lặng tình, giọt vô tâm

    Giọt rớm rớm ướt, giọt tầm tã rơi

    Giọt nào đầy, giọt nào vơi

    Giọt nào vỡ cả khoảng trời đêm mưa

    (Giọt mưa đêm – Quang Khoảng)

     

     

    Tay cầm mưa dắt mưa theo

    Nghiêng mưa soi thấy trong veo hạt tình

    ( Hạt mưa xuân- Quang Khoảng).

    Tôi thầm nghĩ tại sao tác giả Quang Khoảng lại thích viết về cơn mưa đến thế, trong chùm thơ của ông có đến ba bài thơ viết về mưa,phải chăng mưa như một sự xoa dịu của thiên tạo, làm vơi đi nỗi lòng băng giá cho một tâm hồn đang khao khát  dâng hiến, yêu thương.

    Những câu thơ như thế này ví như hương hoa muốn bay rồi thơm.

    Hong tóc nơi đầu gió

    Hương bưởi bay thơm lừng

    (Người hàng xóm – Quang Lượng).

    Những câu thơ tình khiến ta phải lắng lại, suy ngẫm.

    (Đêm qua bóng em chìm trong tôi

    Anh lặng nhìn căn phòng vắng lẻ đôi

    Sao em nỡ về vồi vội thế

    Để trăng mờ cơn gió hú tái tê

    (Nắng yêu thương- Bùi Ngọc Lân)

    Cuối đông rét ngọt trăng tà

    Nửa đêm lại nhớ người ta quặn lòng

    (Nhớ lần về quê- Bùi Ngọc Lân)

    Còn với nhà thơ chân quê này nữa thì như vầng trăng đã đến thời viên mãn, vì vậy ở tác phẩm ta hay bắt gặp sự ngoảnh lại, suy ngẫm về tháng năm để nhớ về tháng ngày còn khuyết để thương, ngoảnh lại không phải vì nuối tiếc, mà ngoảnh lại vì ngậm ngùi để tâm hồn thêm phong phú. Tác giả Quang Mên đã nhận thức được rằng những khuyên khuyết kia là nơi cận kề cái đẹp, cái thật của đất trời và nhân thế.

    Xin làm cơn khát đồng xanh

    Tôi uống dòng  mát ngọt lành sông quê

    Nói lời bông lúa mùa về

    Tay người gặt hái bộn bề lượm hương.

    (Trước dòng Đa Độ- Quang Mên)

    Có những bài thơ, những câu thơ về quê hương, về mẹ của nhà thơ Quang Mên thật giản dị và thật gợi, đầy ắp nỗi niềm riêng, có sức bao quát, lan toả, tạo được sự đồng vọng và cộng hưởng trong bạn đọc xa gần.

    Đến thời cổng sắt nhà xây

    Mẹ nằm dưới bóng cỏ cây cuối trời

    Trong cơn ký ức khôn nguôi

    Thân cò in bước đường đời ngõ mưa.

    (Ngõ mưa – Quang Mên)

    Cũng như con người của đời thường nhà thơ Quang Mên mộc mạc, giản dị, cốt mượn thơ để giãi bày tâm sự đang chất chứa trong lòng. Bao thế sự, chiêm nghiệm nói chung muôn hình van trạng đã kết tủa trong suy ngẫm không thể không nói ra, mà nói thành thơ... khó lắm thay.

    Đời còn bao hờn giận

    Người thương ném bã trầu

    Chỉ xin đừng ném đá

    Vỡ ban mai qua cầu

    (Giận và thương – Quang Mên)

    Và nhà thơ đang dự cảm về những điều sẽ sảy đến như một sự tất yếu của cuộc sống về quy luật chuyển hoá của cuộc đời, con người.

    Rồi đến một ngày bất chợt

    Nỗi đau lá rụng phương anh

    Có câu thơ nào ở lại

    Trời cho một vạt nắng xanh

    (Dự cảm – Quang Mên)

    Sau khi đọc những câu thơ như thế này tôi tự mình liên tưởng đến đội ngũ những ngươì sáng tác thơ và yêu thơ ở thành phố, hàng năm hội nhà văn vẫn tìm tòi, phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp cho những cây bút trưởng thành, thành hội viên hội nhà văn Hải Phòng, vấn đề rất tế nhị nên tôi không dám so sánh một số cây bút, nhưng về chất lượng thơ thì những người sáng tác chuyên nghiệp dễ nhận ra, thôi không dám bàn sâu nữa, văn chương nhạy cảm, nhiều vấn đề xung quanh, lại nữa vì tác giả Quang Mên đã quan niệm chỉ cần viết cho hay, viết về ai, cái gì, vấn đề gì không quan trọng mà quan trọng phải là viết như thế nào?

    Như trên đã giới thiệu, ở bài viết này tôi muốn nói về một tác giả nhí. Cách đây đến gần chục năm tôi đã đọc Bùi Thị Quỳnh Nga, những câu chữ trong sáng, tinh tế em viết nghệ thuật như thế này không phải người làm thơ nào cũng nghĩ ra được.

    Vầng trăng cong vút

    Soi bóng nghiêng nghiêng

    Kìa trong lòng giếng

    Ai rơi chiếc liềm

    (Giếng làng – Bùi Thị Quỳnh Nga)

    Ngắm gương mặt bé

    Đẹp tựa trăng rằm

    Đưa nôi chị hát

    Dỗ nín vầng trăng

    (Dỗ nín vầng trăng- Bùi Thị Quỳnh Nga)

    Những câu thơ như thế như một món quà cho trẻ thơ, không phải chỉ riêng trẻ thơ thích mà người lớn cũng thích.

    Bây giờ thì tác giả nhí của chúng ta đã lớn đã bước sang tuổi “Môi hồng vừa hé mở/ đón gọi mùa đông sang”, lúc này chúng ta lại được đọc những vần thơ rất đằm thắm đầy nữ tính của Bùi Thị Quỳnh Nga.

    Gió gửi vầng mây lạnh

    Đem quấn vào mùa đông

    Trời bật hanh rót nắng

    Hong ngực ai phập phồng.

    (Mùa đông của chị - Bù iThị Quỳnh Nga)

    Trong tập ta lại bắt gặp những câu thơ ấn tượng của tác giả Bùi Xuân Thắng.

    Đêm nay nghe tiếng cuốc kêu

    Bầu trời trong sáng như khêu nỗi niềm

    (Nỗi nhớ mùa hè – Bùi Xuân Thắng)

    Rồi những câu thơ da diết như đang hướng  về nguồn cội với sự biết ơn không nguôi của tác giả đoàn Thanh Tâm.

    Đời con mang nặng công ơn

    Cánh đồng gặt hái bát cơm mùa về

    Vơi đầy bao nỗi thương quê

    Quần nâu áo vá nón mê một thời.

    (Mẹ - Đoàn Thanh Tâm)

    Câu thơ mang tính tả  thực đầy sức gợi, lay động của tác giả  Lê Việt Tiến.

    Tình em tim tím mặn mà

    Nhuộm tôi đo đỏ, nga ngà chống chênh.

    (Nhuộm – Lê Tiến Việt).

    Lại đến với những câu thơ đầy nhân văn của tác giả Nguyễn Hà Hương Ly.

    Lũ chúng con

    Bài học làm người mới lật trang đầu...

    Bài học làm người chưa thể học xong

    Lời thầy cũ chẳng bao giờ xưa cũ.

    Thi tập “Nhân Trai những tâm hồn thơ” là tập hợp có lựa chọn của những người con được sinh ra trên quê hương dù đang sinh sống ở đây hay đã bôn ba xứ người, nhưng tấm lòng vẫn đau đáu về miền quê dấu yêu với trái tim đầy tình nghĩa, tuy nhiên là một tập hợp thơ thì ở cấp độ nào cũng khó tránh khỏi những “hạt xanh hạt lép”, cái chúng ta đang đón nhận là tấm lòng chân mộc của những con người chân quê. Nhà thơ Quang Mên ý tưởng cho ra đời tập thơ cũng bởi nhà thơ rất yêu quý, gắn bó với mảnh đất quê hương. Tập thơ đã phần nào tỏ rõ tấm lòng của người thơ với nơi đã dung dưỡng ông suốt cả cuộc đời. Nhân Trai miền đất sản sinh ra rất nhiều tâm hồn thơ. Nhân Trai là quê hương thứ hai của tôi, nơi đã sinh ra mẹ hiền yêu dấu. Cha tôi không làm thơ, có lẽ những xúc cảm cuộc sống được ghi chép lại bằng thơ của tôi cũng ảnh hưởng bởi mùi khoai, vị sắn, cả khói thuốc lào trầm bổng của hương đất tình người, những dư vị của cuộc sống sôi động nơi đây. Những người con của Nhân Trai cùng hát khúc hân hoan với ca từ giàu nhạc điệu, dàn đồng ca dạt  dào cất lên đón mùa xuân mới .

    Đêm 07/12/2012

     Bùi Thị Thu Hằng (Hội viên hội nhà văn Hải Phòng)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    thuhanghp | 06 November, 2012 11:15



    Gió cong đường Năm

    Nắng mềm sông Rế
    Dạo một vòng hồ sinh thái Nam Sơn
    Những chòm tóc đen, trắng túm tụm
    Chiếc môi hình đòn gánh bật mầm
    Chuyện mới nhà nông

    Nâu lá mơ
    Vàng  lá khế
    Cách nhau chừng mươi miếng lụa đỏ

    Đồng Thái màu má hoa đào ước lệ

    Dăm miếng lụa vàng

    Đồng Dụ màu cam vắt vai ẩn ngữ
    Ngực cánh đồng căng đôi bầu vú
    Phập phồng sữa...phập phồng sữa mở ra cuộc đời nữa

    Làng giờ vắng màu khói rơm rạ
    Dàn anten như giàn đồng ca của kiến
    Nối từ đầu xóm tới chân mây

    An Dương ngày em đến!

    Mẹ quá chiều ngồi nhắc nông sâu
    Sợ héo lá trầu
    Mai lấy đâu làm giầu câu chuyện

    Sau Sắc – Hương – Hoa có anh ước hẹn

    Thoáng thế thôi mà mắc nợ cả đời.

    387902-me.jpg, 156 KB

     "Hoa đâu chỉ chọn miền đất An Dương để thơm, để luyến..."

    thuhanghp | 01 November, 2012 07:27

     

    Dẫu chưa mắc nợ lời mời

    Thì cam Đồng Dụ vẫn tươi sắc mùa

     

    Đa đoan từng tiếng chuông chùa

    Mắt đào đỏ ngóng trắng mưa bên thềm

     

     An Dương mới  thật thà đêm

    Phây phây ngực gió trăng liềm treo non

     

    Khăn hoa em giấu nét giòn

    Tóc mây rối cỏ gót mòn sương sa

     

    Đặng Cương lúa nhắc hương xa

    An Đồng máy rộn rã ca  gọi gần

     

    Sông Rế ai chuốt mà ngần

    Cầu cong eo gái  thanh tân phố phường

     

    Chạm môi đất bỗng nên thương

    Tiếng gà đêm giục về phương mặt trời

     

                                          Bùi Thị Thu Hằng

     

    Sáng 19-10-2012, tại Huyện ủy An Dương, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hải Phòng khai mạc Trại sáng tác VHNT năm 2012 về đề tài xây dựng nông thôn mới.

    alt

    Những đại biểu tham dự Trại sáng tác (Ảnh của nhà văn Lê Minh Thắng)

     

     

    thuhanghp | 07 October, 2012 15:01

     

    Tu toa… tu oa

    Con Sơn Ca tái diễn giai điệu cũ

    Mặt trời muốn cởi sợi dây cô đơn cho biển

    Câu thơ em ví như biển

    Thì anh là gió để sinh ra sóng trùng khơi

    Đất nước còn lắm Tô Thị, Vọng Phu lắm anh ơi

    Người nói lời chia ly, tự mình em hoá đá

     

    Lấy lá làm kèn là em đã vay của trời màu xanh

    Mượn của đất mấy phân sức sống

    Nợ nần cây chút nhựa

    Để tồn tại và ngân nga khúc trầm bổng về anh

    Bởi yêu người trái tim thế chấp...

     

    Người mải mê “cái đẹp” đẩu đâu

    Em mê mải một đời nông nổi

    Thổi nỗi buồn chảy xuôi

    Gọi anh về ngược tiếng cười ca dao

    Cái đêm mười sáu trăng sao

    Cái đêm ngực nở hoa đào mùa thu

    Cái đêm mở cửa ngục tù

    Cái đêm bay với lời ru bênh bồng

    Cái đêm... đêm ấy... còn không?

    Trên tay kèn lá em bồng ngày đi!

     

    Lấy lá làm kèn

    Giai điệu đỏ mắt, vàng da

    Xám môi, úa tóc ngày hoa nhợt màu.

     

     

     http://thuhanghp.vnweblogs.com/gallery/24919/previews-med/DSC03259_%E5%89%AF%E6%9C%AC.jpg

    Sáng 19-10-2012, tại Huyện ủy An Dương, Hội Liên hiệp CHNT thành phố Hải Phòng khai mạc Trại sáng tác VHNT năm 2012 về đề tài xây dựng nông thôn mới.

    alt

    Những đại biểu tham dự Trại sáng tác (Ảnh của nhà văn Lê Minh Thắng)

     

     

     

     

     

     

     

    thuhanghp | 27 August, 2012 17:36

     

    Email anh nhé!

    Gửi giùm em bản thảo

    Cho một cuộc chơi

    Thời gian khỏi đi lùi

    Sao con bò bị trói gối ở đầu hẻm

    Cứ tru lên , uốt… buột… ruột mà không gặm tạm cơn gió?

    Gió, những mầm cỏ nguyên cớ đè lên nhau

    Cỏ cũng tôn vinh nhau

    Ban mai còn căng cái dạ dày

    Mặc kệ hoàng hôn ốm mệt

     

    Anh trả lời giùm em

    Tại sao Sơn Ca mẹ vỡ ối ở giờ P

    Lại líu ríu líu lô ở giờ Q

    Loài  người muốn ủ tiếng hót thành rượu

    Để chôn nhau quên rằng mai sẽ chết

     

    Hình như anh ơi hoa cau đang rơi

    Cuối mùa hè rồi nên hoa cau buồn

    Người đừng đùa em kiểu ngày xưa chuồn chuồn cắn rốn

    Em vẫn tin vào cơn dông

    Dẫu cơn dông làm xước ba phần tư thế giới

    Người ta lấy cái lưỡi làm mặt bằng

    Cái lưỡi có hình con cá sấu

    Thế mới xoa dịu nỗi đau kiếp trước và cộng hưởng niềm vui kiếp này

     

    Phố xá ùn tắc

    Mặc phố đông ùn tắc

    Ta thẫn thơ góc cạnh cuộc đời

     

    Viết ngày 27/08/2012

    Bùi Thị Thu Hằng

     

     

     

     

    thuhanghp | 19 July, 2012 15:28


     (Kính tặng hương hồn Họa sĩ Quang Ngọc)

    Yên Bái đêm không ngủ
    Khuôn mặt núi biến dạng
    Đường về phố biến sương chăng
    Cánh Phượng hồng ơi! Ước mơ nào đang vỡ

    Mặt trời đã cài then đêm
    Núi rừng găm vuông vải đen lên ngực
    Còn chim muông để tang trong lòng
    Nên đêm nay mới hót nhiều đến thế...
    Thèm nghe một chiếc lá rơi


    Chiếc lá thôi ràng buộc trên cây
    Ba phần tư đường gân cũng tạm biệt nỗi đau
    Bức vẽ - Giải thưởng – Bản thảo đang ở trọ
    "Vì hòa bình", cũng "Nhìn từ hai phía' của "Cha và con"...
    Em  đưa chiếc DYNAMIC  lên gần cằm
    Người họa sĩ lại bỏ mùa gió chướng
    Sự - Xa – Cách con mắt không đọc nổi?

    Thế giới có thật
    Sao con người chỉ thở giả vờ?
    Con tim chỉ đập vờ?
    Đấy là em biến ảo ý nghĩ
    Đường nhăn trên trán, sự dạn dày trên tóc anh
    Thời gian đang lập trình

    Sáng nay sương giăng giăng núi rừng
    Em cũng  cài vuông vải đen lên ngực
    Mặc dù những bức vẽ bày đầy phòng triển lãm
    Chưa bức nào anh ý tưởng về em!

    Viết đêm 09/07/2012
    *** Tác phẩm của họa sĩ Quang Ngọc

    Bùi Thị Thu Hằng

    thuhanghp | 13 July, 2012 09:49

    Những chiếc lá hình trái tim mọc từ lưng núi

    Mơ ngược phía mặt trời mọc

    Ý tưởng hòa nhạc

    Buồn

    Gọi tên anh

    Gió làm cuộc hành trình khép mở

    Thổi tìm miền sinh nở nụ hôn

     

    Mười hai ngày du ca với lá

    Muốn thay tấm áo mặc núi

    Con ve rừng rút ruột hồn vía

    Không muốn thoát xác

    Con thiêu thân tự quăng mình vào lửa

    Không muốn người ta thiêu

     

    Em gom nhặt hơn sáu mươi xào xạc

    Xanh - Vàng...

    Chiếc nào nhuộm màu đêm

    Còn chiếc lá đang sáng

    Thắp lên bởi mắt em

     

    Chiếc lá lận lội dòng sông Chảy

    Chiếc lá ngân ngấn giọt mồ hôi núi Chuông

    Anh có thương

    Hãy nâng lên dịu dàng như lá!

     

     

     

    (Kỷ niệm những ngày Yên Bái 09/07/2012)

     

    thuhanghp | 27 June, 2012 15:20

     

     

    Ngày mai em xa...

    Mọi rối rắm đang cố ngăn nắp bảo toàn

     Ngăn cặp chật hẹp

    Nào giấy vệ sinh, kem đánh răng, xà bông... hãy cùng ta làm cuộc ... chạy trốn lo toan

    Trốn tháng ngày nhợt nhạt, ngày vô cảm với cả mùi hương và ban mai

    Giúp ta với ném bản thảo bạn bè mắng nhau vào sọt rác

     dẫn niềm tin từ câu thơ

    Thời gian ơi!

    Tựa khuya khoắt là lúc ý nghĩ em đang khuyết

    Vòm trời đêm nay cũng như đêm trước

    Giọt sương đêm nay cũng như đêm trước

    Chưa biết mới mẻ mình

    Chiếc giường hãy thôi huyền viễn

    Những thổn thức, bồi hồi trong em vẫn nguyên khiết

    Con Át Cơ  đang gấp gấp

    Nhịp thơ dại

    Nhịp thiếu nữ

    Nhịp đàn bà

    Cũng yêu anh vị một giá – trị - nhân - văn

     

    Ngày mai em xa...

    Lúc hôn không dám nhìn sâu vào mắt

    Em sợ nỗi buồn rơi trên má

    Em sợ nỗi buồn trên má anh

     

    Đêm 27/06/2012

    BTTH

     

     

     

     

    thuhanghp | 17 June, 2012 14:23

     

    Hình như trên đời này, con người là cả một vũ trụ đầy bí ẩn, đòi hỏi ta phải dấn sâu vào mà khámalt src=http://d.f10.photo.zdn.vn/upload/original/2012/05/26/19/05/1338033934815006762_574_574.jpg phá, cho tận đến cái tận cùng. Thế nhưng trong thực tế, nếu con người là một vũ trụ(hay một tiểu vũ trụ), thì chính con người bản ngả, còn không khám phá hết được chính mình, thì chúng ta- một con người bản ngả ngoài con người bản ngả ấy- chúng ta làm sao có thể khám phá được cái tận cùng thẳm sâu của người khác. Bà Van Ga trở nên nổi tiếng toàn cầu, là nhờ bà bị một cơn lốc quăng quật tưởng đã chết. Điều đó cả thế giới ai cũng biết, và coi đó là chuyện lạ ở trần gian. Còn nhà thơ Bùi Thu Hằng của Hải Phòng, thì cho đến giờ này, tôi cũng chẳng biết được gì mấy, ngoài việc nhờ đọc vnweblogs của bạn bè, mà biết Bùi Thu Hằng vừa hết cơn đau viêm thần kinh tiền đình. Và cũng nhờ vào sự tò mò tìm đọc, tôi càng ngày càng tin rằng, thơ Bùi Thu Hằng đang có sự bứt phá rất mạnh, đang làm nên một Bùi Thu Hằng đầy duyên dáng và độc đáo. "Giấc mơ trong ngôi nhà đang chấy", Bùi Thu Hằng viết vào tháng 5 năm 2012, tức là viết sau khi khỏi bệnh, phải chăng là một bài thơ của "chuyện lạ" đã nhập thân vào một con người bản ngả, đã từng sống hết mình với đời, với thơ.  

    Giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy"

    Dang dở bài thơ về anh
    khuya lắm, cây bút trên tay thức
    Cảm xúc chồm lên
    Quật ngã ý chí

    Rạng rỡ vẫn khuôn mặt anh ưa nhìn
    Tiếng còi vào ca, ba trăm sáu mươi phút lại hối hả
    Áo anh ướt hơn em tưởng tượng

    Cố thiếp đi một tí
    Cố thiếp đi một tí
    Em mơ thấy ngôi nhà đang cháy
    Anh lao đến không bế xốc em ra
    Dùng môi khoá chặt nỗi sợ hãi trong em
    Ngọn lửa... ngọn lửa... tóc... áo ... quần... da… thịt... đang hỏa thiêu
    Mình vẫn như hai con sâu ngấu nghiến diệp lục
    Em mỉm cười, chớp mắt, cấu vào em để biết rằng tồn tại
    Trong mơ
    Em chỉ mong đó là hiện thực
    Để được chết trong vòng tay anh
    Để được chết trong vòng tay anh
    Mình dắt nhau lên thiên đường đấy chứ
    Anh và em không có con chung
    Chỉ những đứa con tinh thần
    Chúng có thể chết trước...
    Hoặc đợi chết cùng...
    Còn tuỳ thuộc...


    Con muỗi hút máu làm em giật mình
    Cô đơn dậy
    Ý nghĩ dậy
    Mười đầu ngón tay em
    Cả con tim em... bật máu
    Giọt sương hiện thực lại thay tóc em
    Mùa hiện hữu lại thay khuôn mặt em
    Con muỗi đáng ghét

    Em khóc
    Liệu anh có thật trên đời?

     

    HP - 05/2012
    BTTH 

     

    alt

     

    LỜI BÌNH CỦA HỒ TÌNH TÂM


    Dường như ngày nào tôi cũng đọc thơ, hoặc đọc bất cứ một cái gì đó của bạn bè. Trước hết là để cảm cái hay cái đẹp trên từng trang viết, sau đó là để học hỏi, để tự nhìn nhận lại mình, để tự mình phân thân, vừa nhập vào mình, vừa nhập vào người, để tự hỏi cái bản ngả của mình sẽ nương cậy vào ai, trong thế giới như thực như hư này. Thói quen đó hôm nay, đã cột chặt tôi vào bài thơ, “Giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy” của Bùi Thu Hằng. Tôi đọc và tôi giật mình, bởi không ngờ Bùi Thu Hằng duyên dáng thế, dịu dàng thế, mà thơ viết quá mạnh, quá lửa, quá lạ, và quá ư đốt cháy người đọc, bằng cả ngùn ngụt sức mạnh của cảm xúc và sức mạnh của triết lý “khủng khiếp”.

    Ai trong đời mà chẳng mơ, chẳng từng có những giấc mơ. Giấc mơ là sự tái hiện của hiện thực, của cảm xúc, của ước muốn, của khát vọng, và của cả sự bức xúc tình dục, cũng như sự sợ hãi, sự chán chường, sự bệnh hoạn, sự cùng cực đến muốn lìa bỏ cuộc đời… Nhưng giấc mơ của Bùi Thu Hằng lạ lắm. Đó là giấc mơ bùng cháy. Giấc mơ tự hoả thiêu. Giấc mơ đòi giải thoát khỏi thực tại. Nhưng tuyệt nhiên, nó không phải là giấc mơ tìm chết.

    Dang dở bài thơ về anh
             khuya lắm, cây bút trên tay thức
             Cảm xúc chồm lên
             Quật ngã ý chí

    Ngay từ khổ thơ đầu, ta đọc và ta hiểu, vì sao tác giả lại có một giấc mơ kì lạ, nếu không muốn nói là giấc mơ “khủng khiếp” của ái tình, khao khát đòi được chết để giải thoát, để hoá giải hết thảy những gì từng bức xúc, dồn nén. Đáng lẽ tôi không nói ngay ra điều này, nhưng vì cảm được phần nào tầng tầng triết lý cứ đè lên nhau, chồng lên nhau, theo dọc dài cơ thể bỏng cháy của bài thơ, mà buộc tôi phải nói. Đó là mãnh lực của khát vọng tình yêu, đã đạt đến cái ngưỡng của đòi hỏi dâng hiến cho nhau, mà thơ viết không thể nào thổ lộ được, nên càng viết càng bế tắc, càng về khuya càng khắc khoải, đến mức, “cảm xúc chồm lên” “quật ngã ý chí”. Nhân vật trữ tình trong thơ đã không thể làm chủ được lý trí của mình, dù ý chí tự kìm hãm có mạnh như Thái Sơn, khi mà cảm xúc yêu thương đã bùng lên hừng hực lửa. Ai đã sống, đã yêu hết mình, sẽ hiểu được điều đó. Nó là hiện sinh, là nguyên căn của tội lỗi, tội ác, của sự phản bội. Nhưng nó lại là sự chói sáng mãnh liệt của một tình yêu cháy bỏng thật sự, không bạo lực nào có thể khuất phục, không biên giới nào có thể cách chia, không giới hạn nào có thể cầm tù. Nó là khát vọng của tình yêu đòi giải thoát, thoát khỏi những ràng buộc đời thường.

    Rạng rỡ vẫn khuôn mặt anh ưa nhìn
             Tiếng còi vào ca, ba trăm sáu mươi phút lại hối hả
             Áo anh ướt hơn em tưởng tượng

    Tốc độ thơ dồn chuyển rất nhanh, chấp cả nhịp điệu, bởi tất cả bây giờ, chỉ còn là cảm xúc đã “chồm” lên, mạnh đến không tưởng. Thế nhưng bản lĩnh thơ của Bùi Thu Hằng, vẫn cầm cương được con ngựa bất kham của ái tình đòi dâng hiến. Nhân vật trữ tình vẫn còn đủ tỉnh táo, để nhận ra khuôn mặt “ưa nhìn” của người yêu, để vẫn còn nghe được tiếng còi gọi vào ca, thậm chí, vẫn còn đếm được nhịp bước hải hà “ba trăm sáu mươi phút”, của một ngày làm việc “hối hả”, con người luôn quay cuồng, ngụp lặn, trong tốc độ chóng mặt của thời đại công nghiệp “vắt xác”. Sự tinh tế, đầy nữ tính, trong thơ Bùi Thu Hằng, là giữa bời bời của cơn lốc thời đại công nghiệp, nhân vật trữ tình trong thơ, vẫn nhận ra được, “áo anh ướt hơn em tưởng tượng”.

    Cố thiếp đi một tí
             Cố thiếp đi một tí
             Em mơ thấy ngôi nhà đang cháy
             Anh lao đến không bế xốc em ra
             Dùng môi khoá chặt nỗi sợ hãi trong em

    Tốc độ thơ vẫn nhanh vùn vụt. Nhanh như chính sự bất kham của cảm xúc đã “chồm lên”. Đẩy nhanh bài thơ lên đỉnh điểm của cao trào. Hai câu đầu của khổ thơ trung tâm khá dài này, tác giả như muốn tạo ra sự trùng điệp lời tự ru bất lực của nhân vật trữ tình trong thơ, bằng thủ pháp điệp nguyên câu, nhấn mạnh hơn lời tự nhủ, vốn dĩ đã biết trước là vô ích của nhân vật, nên nhân vật càng tự nhủ lòng, giấc mơ càng bùng cháy. Đó là giấc mơ của một người đang thức, mơ thấy ngôi nhà bốc cháy, mơ thấy người yêu lao đến, nhưng không “bế xốc” nàng thoát ra khỏi lửa khói cuồn cuộn, mà lại “khoá chặt nỗi sợ hãi” của nàng, bằng đôi môi bỏng cháy. Tôi gọi đó là một triết lý “khủng khiếp” của tình yêu, nhưng lại có thật, nhưng lại có thể hiểu được. Bạn đọc đừng thắc mắc, vì sao theo lẽ thông thường, khi cái chết cận kề, bao giờ người ta cũng mơ thấy sự giải thoát, mà nhân vật trữ tình thơ lại mơ thấy nụ hôn. Như tôi đã nói, đó là sự khát khao đòi hỏi đã chạm đến ngưỡng, không thể kìm nén được nữa, nó bắt buộc phải giải thoát, bởi vì đó là ranh giới của sự “chết” và sự giải thoát, mà thuộc tính của sự sống, là sự vùng vẩy đòi giải thoát khỏi cái chết. Ai đã đọc “Khói lửa” của Hen Ri Bạc Buýt, chắc không quên được chi tiết khát vọng thèm muốn cái đẹp, đã khiến một người lính Pháp, trong khi đào bới đất cát để thoát thân, dưới chiến hào bị bom pháo của lính Đức đánh sập, đã quên tất cả, đã làm tình với cái xác chết đã ba ngày của người đẹp Pa Ri, cô phát thanh viên từng làm say đắm cả nước Pháp. Triết lý của tình yêu và triết lý của tình dục, tuy rất khác nhau, nhưng đôi khi nó vẫn có sự hội tụ ở đòi hỏi xác thịt, không thể cưỡng lại được.

    Ngọn lửa... ngọn lửa... tóc... áo ... quần... da… thịt... đang hỏa thiêu
             Mình vẫn như hai con sâu ngấu nghiến diệp lục
             Em mỉm cười, chớp mắt, cấu vào em để biết rằng tồn tại
             Trong mơ

    Tôi không bao giờ có cách nhìn khắt khe, với bất cứ một tác giả nào, mà tôi nhận cảm được ở họ một tài năng. Với “Giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy”, tôi nhận thấy, tài năng thơ của Bùi Thu Hằng, rất gần với một tài năng truyện ngắn, mà tôi có thể nói là rất siêu thực, mang đậm chất của trường phái hậu hiện đại. Vì vậy, “Giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy”, khi đạt tới đỉnh điểm của cao trào, giống như đang chiếu nhanh cho chúng ta xem một cuốn phim, hết sức siêu thực và siêu tưởng. Tất cả đều bốc cháy ngùn ngụt. Tất cả đều đang tự hoả thiêu. Tóc... Áo ... Quần... Da… Thịt... Tất cả đều đang biến mất. Chỉ có tình yêu là tồn tại, “ngấu nghiến diệp lục” cuộc đời nhau.

    Bản lĩnh thơ của Bùi Thu Hằng, một lần nữa lại xuất hiện, khi tác giả cầm cương được giấc mơ “khủng khiếp”, bằng “em mỉm cười”, “em chớp mắt”, “em cấu vào em”, “để biết rằng em tồn tại”… “trong mơ”. Từ ngữ mạnh. Tình ý cuộn chặt vào nhau. Câu chữ dồn nhanh tới đỉnh điểm, rồi bất ngờ buông xuống vụt một cái. Tất cả chỉ là một giấc mơ “khủng khiếp”, “quái dị”, của một tình yêu đầy sức lửa- đỏ rực như ngôi nhà của tình yêu đang bốc cháy ngùn ngụt, để mãi mãi trở thành bất tử.

    Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tài năng thơ của Bùi Thu Hằng vẫn chưa có gì đặc sắc. Cái tạo nên đặc sắc cho thơ Bùi Thu Hằng, là sự trùng điệp của ý tưởng, sự chất chồng ngồn ngộn các tầng lớp triết lý, khiến ta càng đọc càng bị choáng ngợp. Khi mà Bùi Thu Hằng tiếp tục nhấn sâu thêm một nấc nữa, tạo nên điểm nóng cuối cùng cho bài thơ, một cách thật nhẹ nhàng.

    Em chỉ mong đó là hiện thực
             Để được chết trong vòng tay anh
             Để được chết trong vòng tay anh

    Thông thường, những giấc mơ khủng khiếp, bao giờ cũng khiến chúng ta sợ hãi, đến đổ tháo mồ hôi hột, nhưng giấc mơ của nhân vật trữ tình trong bài thơ thì lại khác. Từ trong lửa cháy, từ trong sự hoả thiêu của thân xác, nhân vật trữ tình vụt hiện, chói loà hào quang của lửa, nhưng lại dịu dàng biết mấy- “được chết trong vòng tay anh!”. Một lần nữa, Bùi Thu Hằng lại sử dụng thủ pháp điệp nguyên câu rất thành công- dùng cái chết để bày tỏ sự dịu dàng của khát vọng.

    Mình dắt nhau lên thiên đường đấy chứ
             Anh và em không có con chung
             Chỉ những đứa con tinh thần
             Chúng có thể chết trước...
             Hoặc đợi chết cùng...
             Còn tuỳ thuộc...

    Đoạn thơ trên là sự tiếp tục hạ nhiệt của sự bộc bạch. Bao nhiêu lửa khói, bao nhiêu quần áo, da thịt, đang bốc cháy ngùn ngụt, bỗng chốc được một cơn mưa của những lời thủ thỉ yêu thương dập tắt, chỉ còn lại là anh và em, và những đứa con “tinh thần” của “chúng ta”. Chỉ còn lại là cuộc đời. Các câu thơ nối tiếp nhau cứ ngắn dần lại. Ngắn dần lại. Ngắn lại. Buông lững. Buông lững. Để chạm vào cái thuộc về linh hồn… “còn tuỳ thuộc…”. Tôi đọc và bàng hoàng đến mức, sao mà Bùi Thu Hằng lại viết hay đến thế! Có thể trong giây phút đam mê của ngọn lửa cuồng si, chúng ta có thể tan vào nhau, “ngấu nghiến diệp lục” xác thịt phàm tục của nhau, nhưng đó không phải là tình yêu, điều đó “còn tuỳ thuộc…”… vào việc chúng ta có chạm được vào linh hồn của nhau. Điều đó “còn tuỳ thuộc…”… “còn tuỳ thuộc…”… Khi chúng mình biết chết cho nhau, là chúng mình đang dắt nhau lên thiên đường hạnh phúc.  Thơ Bùi Thu Hằng, từ triết lý tình yêu, đã trở thành triết lý nhân sinh, về lẽ sống và sự chết, của con người cho con người, của con người cho nhau.

    Con muỗi hút máu làm em giật mình
             Cô đơn dậy
             Ý nghĩ dậy
             Mười đầu ngón tay em
             Cả con tim em... bật máu

    Từng nấc một, bài thơ tưởng đã khép lại, nhưng rồi từ ý tưởng này, Bùi Thu Hằng lại bắc thang sang ý tưởng khác, dắt chúng ta đi sâu hơn vào triết lý tình yêu, triết lý nhân sinh, triết lý cuộc đời của tác giả. Anh và em là thật. Tình yêu của em với anh là thật. Cả giấc mơ hư ảo khủng khiếp cũng là thật.  Tất cả. Tất cả đều rất thật ở trong em. Như con muỗi đã hút máu em là thật. Nó có tội gì đâu. Nó sinh ra là để hút máu chúng sinh mà sống, giúp chúng sinh làm mới những giọt máu của mình. Em cám ơn nó đã “làm em giật mình” tỉnh giấc, để em biết trong em, sau giấc mơ “ngấu nghiến diệp lục”, “cô đơn dậy”, “ý nghĩ dậy”, để em nhận ra rằng, “mười đầu ngón tay em, cả con tim em… bật máu”. Vì ai??? Vì sao???!!!...

    Giọt sương hiện thực lại thay tóc em
             Mùa hiện hữu lại thay khuôn mặt em
             Con muỗi đáng ghét

    Sự dồn nén của nỗi đau tình ái đã bật khóc, như “giọt sương hiện thực”, như “mùa hiện hữu”, rưng rưng “thay tóc em”, rưng rưng “thay khuôn mặt em”. Sao mà đáng ghét! Hỡi “con muỗi “đáng ghét”” kia, mi giúp ta thức dậy khỏi “giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy” để làm gì! Ta đã mơ thấy sự hoả thiêu một cuộc tình. Ta đã mơ thấy được chết cho một cuộc tình. Sao lại đánh thức ta, để “cô đơn dậy”, để “ý nghĩ dậy”, để  con tim ta… “bật máu”.

    Vụt một cái, cả bài thơ đột ngột chuyển hướng. Từ giấc mơ “khủng khiếp” trong ngôi nhà đang cháy, có hoàng tử, có công chúa, bất chấp tất cả, để “ngấu nghiến diệp lục” cuộc đời nhau, bỗng chỉ vì(hay chỉ nhờ) một con muỗi, mà đánh thức cả một thực tại trụi trần… nhân vật trữ tình, cô đơn trong tình yêu, đến tận cùng “con tim bật máu”.

    Em khóc
             Liệu anh có thật trên đời?

    Bài thơ kết thúc bằng tiếng nấc nghẹn đắng. Bằng câu hỏi thảng thốt. Hỏi vào màn đêm. Hỏi vào sự Thức – Tỉnh của giấc mơ. Hỏi vào trống vắng của cuộc đời. Hỏi vào muôn thưở của nỗi đau tình ái. “Liệu anh có thật trên đời?”.

    Bùi Thu Hằng viết “Giấc mơ trong ngôi nhà đang cháy”, như lật qua lật lại hai bàn tay, như vắt kiệt tim óc mình ra mà viết, khiến người đọc như bị dẫn vào mê hồn trận; càng dấn sâu vào, càng khám phá ra nhiều góc cạnh của tình yêu, tầng tầng lớp lớp, với biết bao nhiêu điều thăm thẳm của nỗi niềm khao khát yêu thương, càng đọc cáng bất ngờ thú vị. Cuối cùng, khi khép lại cả bài thơ để hồi tưởng, ta có thể nhận thấy rất rõ rằng, triết lý tình yêu trong thơ Bùi Thu Hằng, đã khiến chúng ta phải ngạc nhiên đến sững sờ, đến phải thốt lên: Tài! Tài thật! Bùi Thu Hằng!

    HTT

     

    thuhanghp | 10 June, 2012 23:45



    Dang dở bài thơ về anh
    khuya lắm, cây bút trên tay thức
    Cảm xúc chồm lên
    Quật ngã ý chí

    Rạng rỡ vẫn khuôn mặt anh ưa nhìn
    Tiếng còi vào ca, ba trăm sáu mươi phút lại hối hả
    Áo anh ướt hơn em tưởng tượng

    Cố thiếp đi một tí
    Cố thiếp đi một tí
    Em mơ thấy ngôi nhà đang cháy
    Anh lao đến không bế xốc em ra
    Dùng môi khoá chặt nỗi sợ hãi trong em
    Ngọn lửa... ngọn lửa... tóc... áo ... quần... da thịt... đang hỏa thiêu
    Mình vẫn như hai con sâu ngấu nghiến diệp lục
    Em mỉm cười, chớp mắt, cấu vào em để biết rằng tồn tại
    Trong mơ
    Em chỉ mong đó là hiện thực
    Để được chết trong vòng tay anh
    Để được chết trong vòng tay anh
    Mình dắt nhau lên thiên đường đấy chứ
    Anh và em không có con chung
    Chỉ những đứa con tinh thần
    Chúng có thể chết trước...
    Hoặc đợi chết cùng...
    Còn tuỳ thuộc...


    Con muỗi hút máu làm em giật mình
    Cô đơn dậy
    Ý nghĩ dậy
    Mười đầu ngón tay em
    Cả con tim em... bật máu
    Giọt sương hiện thực lại thay tóc em
    Mùa hiện hữu lại thay khuôn mặt em
    Con muỗi đáng ghét

    Em khóc
    Liệu anh có thật trên đời?

     

    HP - 05/2012

    BTTH





    thuhanghp | 05 June, 2012 13:43

     

    Tôi ghen cơn gió chưa chồng
    Tôi ghen sắc Phượng dỗ hồng dấu môi

     

    Cánh hoa ép sổ lâu rồi
    Biết người còn thắm như thời tặng hoa

     

    Bến Nghiêng hai đứa chia xa
    Lời yêu chưa kịp hoá ra dại khờ

     

    Lễ truy điệu sống dưới cờ
    Đêm Tầu Không  Số mịt mờ phương Nam

     

    Thế là thành mối tình câm
    Lửa hoa dấm dứt cháy thầm trong tim

     

    Ngày về bên nấm cỏ im
    Máu hoa ứa, mách người tìm lối quen

     

    Hồn ba tấc đất gào tên
    Tôi cầm ngày tháng không em làm gì

     

    Bom thù nỡ khoá hàng mi
    Tươi dang dở nét phấn khi giảng bài

     

    Chiến trường không chết người trai
    Mất cô giáo trẻ đợi hoài hậu phương *

     

    Tiếng ve nức nở kêu thương
    Rưng rưng Phượng rắc đỏ đường chịu tang

     

    Nỉ non gió nấc đồng  hoang
    Tiếc chưa chạm  phút vội vàng... đắm say

     

     Xác hoa khe khẽ phủ gầy
    Khoác lên em tấm khăn mây Phượng hồng

     

    *“ý thơ của Hữu Loan”


    HP – 04/2012

    BTTH
     

     alt

    Xác hoa khe khẽ phủ gầy

    khoác lên em tấm khăn mây Phượng hồng...

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


     

    thuhanghp | 26 May, 2012 23:10

    Dỗ nín màu hoa

    Mùa hoa ứa máu mà hồng
    Mặt trời có nhiệt độ giống môi nồng nàn khoá chặt nhau vậy
    Vẫn thua cấu tứ của tán cây
    Ai biết Phượng thèn thẹn ý nghĩ

    Anh đem cánh nào  mỏng manh
    Ủ thành phố vào túi ngực
    Đất dưới chân em rộn tâm hồn báo thức
    Vầng trăng hồng, giọt sương hồng, hơi thở cũng hồng
    Sóng lóng ngóng còn đổ dài cho gió
    Biển mê say dỗi hờn với cỏ
    Em thấy  nhân gian nhiều dang dở
    Thôi anh ơi khoan nói điều nông nổi
    Hãy lặng thầm nghe từng nhịp tim mau

    Anh là dòng ngọt ngào tan chảy thẳm sâu
    Em không cầu vồng sau mưa rồi lại mất
    Cánh hoa nép trong tinh khôi chẳng kẻ dòng
    Lá vẫn sáng hy vọng
    Hoa đã chiều bâng khuâng
    Hạ xa anh nỗi buồn càng rộng
    Tháng năm dài em biết giấu vào đâu
    Gió có đa đoan mà thổi nhiều đến thế


    Búp hoa tựa dấu than !
    Nép bên anh mang hình nốt nhạc
    thổi giai điệu Poinciana
     Gọi
    Những  tứ thơ dỗ nín mối tình đầu...

    (“Poinciana” của nhạc sĩ Nat Simon, là bản nhạc ca ngợi hoa phượng,
    bài hát được ghi âm  bởi nghệ sĩ Saxophone ).
    HP – 05/2012

    thuhanghp | 19 May, 2012 17:03

     

     alt src=http://i784.photobucket.com/albums/yy125/ngocduhao/c-2.jpg

    Còn nhớ cách đây một năm, khi chưa tham gia làng vnweblogs, tôi vẫn còn là một độc giả tâm huyết với các trang mà tôi hay đến tìm hiểu và đọc tác phẩm. Tôi thích đọc nhất những trang có đăng thơ, thơ hay thì càng cuốn thời gian của tôi. Có khi tôi còn nghịch ngợm quậy phá, vào một số trang commen thật nhiều giống như tung dầy mảnh xốp vụn ra mặt sông để tạo sóng, hồi bé tôi hay chơi như thế... Bạn nào đó đã gửi “Thông báo vi phạm”, làm tôi sợ muốn ngất. Sau này tham gia sân chơi tôi mới hiểu bạn đó cũng chỉ là một địa chỉ ảo , còn đưa ra các điều khoản này nọ nữa… khiếp,  thế mới biết chuyện comen kiểu “Thương trường như chiến trường” của một số người cũng phức tạp, lắm công phu... Sau đó blogs Nguyễn Thái Thanh đã gợi ý tôi lập một trang riêng để giao lưu và với bạn bè gần xa và đánh dấu mốc thời gian, tác phẩm cá nhân vào đó, lời mời chào thân thiện của một chủ nhân blogs có gương mặt hiền khô lại là người theo đạo thiên chúa nên anh rất trọng nghĩa tình và chữ tín đã làm tôi… mềm lòng...

    Tôi chọn ngày sinh nhật Bác làm ngày ra đời của trang blogs của tô. Còn nhớ lời chào của tôi ngày đầu trình làng, hơi dài dòng … nhưng ngày đầu tham gia tôi đăng bài “Thơ cho người bớt lỗi lầm”, bài viết của tôi cũng như ngôi nhà mới đón nhận được hơn một trăm bạn bè đến chia sẻ chúc mừng. Giờ nghĩ lại vẫn còn thấy cảm giác lâng lâng thích thú của tôi mỗi buổi sáng tôi dạy rất sớm, khi chưa tập thể dục, vệ sinh buối sáng tôi đã hăm hả mở “cửa nhà” ra và đón nhận lời chia sẻ của bạn bè, toàn những người có địa chỉ xa lắc, xa lơ nhưng đến với tôi rất chân mộc như blogs Nguyên Hùng, Gió phương nam, Hai Ngô Khoai, Cái Kiến, Chanhrum, Mai Chiêu Sương, Lê Trường Hưởng, Nguyễn Quốc Khánh, Ngọc Du… Ở Hải Phòng cũng thế có một số người tôi chưa từng gặp chỉ quen nhau trên mạng ảo, giao lưu và hiểu nhau thành thân thiện như blogs Lâm Hải Phong, Muối Biển, Trần Hồng ánh, Vũ Văn Lương… và một số bạn bè văn chương nhưng chẳng mấy khi tiếp xúc chỉ quý mến nhau qua vnwebloogs thành tri kỷ như blogs Đinh Thường, Hoài Khánh, Nguyễn Lâm Cẩn, Thynguyen, Bùi Quý Thực, Nguyễn Quốc Hùng, Tuấn Anh, Minh Tâm, Lưu Bán, Lương Thế Phiệt, Hoa Thành , Sơn Hạ…

    Tham gia sân chơi vnweblgs tôi gặp gỡ được rất nhiều bạn bè văn chương để trao đổi tác phẩm, khen có, chê có, khen để mình tươi tốt, chê để mình  vơi dốt, nói chung; đều đáng trân trọng. Tôi được nhà thơ Hồ Tĩnh Tâm, cô giáo Nguyễn Thị Phụng ưu ái dành thời gian viết bài tặng tác phẩm mới ra đời của tôi. Tôi học được bài thuốc gia truyền chữa bệnh sỏi mật, bệnh dạ dày tôi đang mắc cũng qua vnweblogs. Và rất nhiều… rất nhiều… kiến thức của cuộc sống tôi đọc được qua vnweblogs. Tuy nhiên vui có thì buồn cũng khó tránh, khi tôi cao trào quá, dấn thân  đã bị “ném đá”,, nhưng tôi thấy từ khi tham gia là thành viên của vnweblogs trái tim mình đã biết… cứng … lúc tôi còn nói đùa, tôi làm thơ là để biết khóc khi người ta đau, thì tham gia vnweblogs biết cười khi bị người ta… "đánh". Có người còn công phu “vào vai diễn” kể chuyện cá nhân tốn kém quá nhiều nước mắt, rồi lại vô cớ bày đặt chuyện với tôi, những chuyện như vậy tôi delete sao nổi khỏi não bộ, đúng là trong cuộc đời cần cả những điều cay đắng, ai sinh ra chưa từng nếm một lần hẳn không thể đánh giá sao trọn vẹn vị ngọt ngào, thơm mát của … mật ong, có những người không dám bước đi vì sợ gãy chân, nhưng sợ gãy chân không dám bước thì khác gì chân gãy. Biết bao chuyện cười, khóc trên sân chơi nhưng tất cả sẽ thành kỷ niệm, để sau này khi tuổi cao, đôi mắt đã  loè nhoè  không định hình rõ chữ dù phông chữ có to tướng trên màn hình, đôi tay không còn ngọ ngoạy nổi trên bàn phím (thời gian trôi nhanh, cuộc đời con người ngắn lại) thì vẫn còn những người bạn đã từng tham gia sân chơi cùng dốc cạn nỗi buồn, vẫn còn những ký ức êm đềm chảy trong bộ nhớ. Tôi nhủ mình hãy để cuộc đời nhảy múa nhẹ nhàng trên bãi cỏ, thời gian như giọt sương đêm trên lá. Mỗi lần anh Hoài Khánh Phó chủ tịch hội nhà văn Hải Phòng, là trưởng nhóm của nhóm blogs Hải Phòng chúng tôi,  gọi điện cho tôi bảo đi gặp gỡ với các blogs ở tỉnh bạn về giao lưu thì tôi vui khởi quá đi, trên đường tham giao giao thông mà đường ở ngoài con mắt, bạn lại bám chặt ý nghĩ. Tôi cứ tưởng tượng ra khuôn mặt tôi sắp gặp gỡ sau những thời gian hỏi thăm, tâm sự trên mạng ảo. Tôi gặp blogs Vô Thường mới biết chị có hoàn cảnh đáng thương đến thế, nhưng chị là người phụ nữ tài năng và có nghị lực, đáng khâm phục. Tôi gặp blogs chị Thanh Thuỷ, chị Bạch Dương, mới biết các chị giỏi giang, thành đạt thế.

    Ngày thơ nguyên tiêu Việt Nam năm 2012 tôi vẫn bị bệnh viêm màng não nhưng anh Hoài Khánh bảo cố gắng đi sẽ được gặp rất nhiều gương mặt trên mạng ảo mà tôi thường xuyên tâm sự. Hôm đó tôi rất vui, bác Hai Ngô Khoai “Người hay rao bán khoai ”, bác Ngọc Du “Người hay gửi hình ảnh hoa đẹp’, Bác Lê Trường Hưởng “người chuyên làm thơ châm biếm những thói hư xấu trong xã hội”, chị Vũ Kim Liên “ngươì hay tâm sự to nhỏ với tôi”, anh Lâm Bằng  “người đã là sợi dây nối thơ tôi với tạp chí văn nghệ Xứ Thanh”, anh Bảy Thi “người hay commen cho tôi những bài thơ rất dài”…Tôi có nằm mơ cũng không ngờ gặp được họ đông vui đến thế, họ vui vẻ tình nghĩa. Tôi ôm xiết chặt lấy bác Hai Ngô Khoai và mọi người. Anh Vũ Quốc Khánh “chụp ảnh cạnh tôi đó”, bác Hồ Văn Thiện nữa, phải mấy mươi commen mới gặp người. Tôi không giấu nổi cảm xúc!  

    alt

    Từ cuối năm 2011 tôi không may bị nhiễm virus viêm màng não nên tôi ít vào mạng hơn, vẫn sáng tác thơ, vẫn đọc comen nhưng không thường xuyên đi thăm mọi người được như trước. Tôi rất xin lỗi. Mỗi buổi mai thức dậy tôi đã thành thói quen lướt qua trang vnweblogs đón nhận lời chia sẻ tâm tình của bè bạn gần xa.

    Những sự đam mê là những chuyến du lịch của trái tim. Mê cho hợp lý, làm gì có  lý luận khúc triết ở trong trái tim, cũng như ở vũ trụ làm gì có những hình học như trong sách. Tuổi tôi đã chạm thu nhưng ý nghĩ và cảm xúc còn xanh như lá, khẳng định như thế, vì học cách thương yêu trên vnweblogs. Cảm ơn những người bạn trên vnweblogs đã cho tôi rất nhiều, cái đáng quý nhất là cho tôi học hỏi phải làm thế nào trong những khoảnh khắc nhận và trả. Mọi người còn cho tôi niềm hạnh phúc, tình yêu trong cuộc sống bộn bề!

     alt

    BTTH

     

    thuhanghp | 11 May, 2012 17:20

     

     

     
    Mùa gợi cảm dẫn dụ
    Vẫn nhận về dấu môi
    Vũ điêu hoa ghì ngực
    Sắc thắm tìm ra tôi
     
    Mở đăm đăm trên trán
    Những mảnh ghép mặt trời
    Láng lênh màu vẫy gọi
    Từ kiếp trước phai phôi
     
    Phượng ăn nắng uống gió
    Hương lạt mềm lòng tay
    Rơi xuống thành ý tưởng
    Bay lên th ành gi ấc say
     
    Tháng Năm lần tóc rối
    Kìa cánh  Phượng đam mê
    Cứ rộn rạo như thể
    Bén duyên người xa quê
     
    Tháng Năm đỏ ngực phố
    Này những sắc đa đoan
    Cứ nở bừng như thể
    Yêu vội cùng  nhân gian


     03/2012

     

    Bùi Thị Thu Hằng (Hội viên hội nhà văn HP)

    ĐC: Minh Đức – Đồ sơn – HP

    ĐT: 0936813704

    Email: Thuhangnt_1972@yahoo.com.vn

    alt 

     

     

    thuhanghp | 04 May, 2012 09:28

    Nhớ cha

     

    G óc tường bỏ đói chõng tre

    Điếu cày lăn lốc, buồn se sắt hồn

     

    Thạch sùng chép miệng nguồn cơn

    Hạc bay trời ấy có còn b ão gi ông?

     

     

    Mẹ tôi

     

    Ầu ơ say nhé mắt gầy

    Ca dao chằng buộc tháng ngày tuổi thơ

     

    Mẹ thương chắp gió tằm tơ

    Kiếp này tôi nợ tứ thơ trăng tròn

     

     

    Vợi vơi vời với

     

    Đã thu rót vợi chén say

    Chưa vơi dư vị tháng ngày yêu anh

     

    Vời xa ngón nghén nắng xanh

    Chân chim vướng với lạc quanh mắt buồn

     

     

    Ăn mày trời cao

     

    Rẩy ba, rẩy b ẩy chìa tay

    Ngô đồng nép gió ăn mày trời cao

    Trốn tim tấc đất khát khao

    Xin nâng nắng đỡ mưa rào... để yên

     

    T ác gi ả: B ùi Th ị Thu H ằng

     

     

1 2 3  Sau»